Thứ Bảy, 24 tháng 4, 2010

- Vài suy nghĩ về quan hệ giao tiếp trong quản lý nhà trường

Giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa con người với con người nhằm mục tiêu trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn kinh nghiệm, kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp.

Giao tiếp có một số đặc trưng cơ bản: Đó là một quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm của những người tham gia giao tiếp;Trong quá trình đó,con người ý thức được phương tiện, mục đích, nội dung cần đạt được khi tiếp xúc với người khác;Giao tiếp giúp đôi bên hiểu nhau, đó là một quan hệ xã hội có nội dung xã hội.
Giao tiếp có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Nếu tách khỏi sự giao tiếp xã hội, con người không thể hình thành và phát triển nhân cách được. Mặt khác, giao tiếp có chức năng định hướng hoạt động, điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người.
Trong giao tiếp, mỗi người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng.Mỗi chủ thể giao tiếp là một thực thể tâm lý-xã hội, là một nhân cách với những thuộc tính tâm lý, trí tuệ, tình cảm … khác nhau và đều có vai trò vị trí nào đó trong xã hội.
Giao tiếp tích cực có tác dụng tạo sự tương giao tốt đẹp,tác động tốt đến tư tưởng, tình cảm của con người.Ngược lại, giao tiếp tiêu cực tạo cho con người sự đau khổ, căng thẳng, xa sút bản chất người ở những mức độ khác nhau.Theo các nhà tâm lý học, dựa vào đặc điểm giao tiếp của một người chúng ta có thể biết được tính cách của người đó.
Giao tiếp quản lý là sự tương tác giữa các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Giao tiếp trong quản lý và giáo dục cần chú ý một số nguyên tắc:
+ Phải tôn trọng nhân cách người giao tiếp. Khi tiếp xúc với người khác, cần có sự thiện cảm, nhìn nhận cái tốt là cơ bản. Ở mỗi người đều có lòng tự trọng, nhân cách, nhu cầu được tôn trọng cho nên không được xúc phạm đến nhân cách của họ. Sự sai lầm ở đời thường là xuất phát từ sự xem thường người khác.
+ Phải tự tin và tin tưởng vào đối tựợng giao tiếp.Trong giao tiếp phải tự tin, làm chủ được mình.Đó là một điều kiện để thành công trong giao tiếp. Phải biết tự khẳng định, tự tin vào chính mình và tin vào khả năng của người khác. Niềm tin chính là động lực tạo ra sự chân thành, hợp tác, khuyến khích sự tự tin và ý chi vươn lên đối với mỗi người.

TS. Randy Pausch trường ĐH Carneigie Mellon đã cho rằng:”Hãy tìm ra điều tốt nhất trong mỗi con người. Không ai hoàn toàn xấu xa. Mỗi người đều có mặt tốt, hãy chờ đợi, nó sẽ xuất hiện”
+ Vô tư, không vụ lợi. Phải thật thà vì mục đích giáo dục. Không thành kiến, định kiến; không vì lợi ích cá nhân mà làm lệch mục tiêu chung.
+ Nhạy bén, đồng cảm trong giao tiếp. Phát hiện kịp thời những chuyển biến tâm lý của đối tượng giao tiếp để có tác động, điều chỉnh phù hợp. Biết đặt địa vị của mình vào địa vị của người giao tiếp để có sự cảm thông, đồng cảm. Hiểu được những nguyên nhân sâu kín dẫn đến suy nghĩ và hành động của đối tượng.
Sự khéo léo ứng xử của nhà quản lý trong giao tiếp là điều cần thiết để xây dựng các mối quan hệ quản lý tốt đẹp. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo dựng môi trường sư phạm lành mạnh có tác động tích cực tới việc hoàn thành sứ mệnh giáo dục của nhà trường. Để tạo được mối quan hệ quản lý tốt đẹp đòi hỏi cả từ phía nhà quản lý và từ phía đối tượng quản lý.
Về phía nhà quản lý cần thực hiện một số nguyên tắc ứng xử được đánh giá là có ích trong việc xây dựng mối quan hệ quản lý tốt đẹp:
+ Hãy niềm nở và lịch thiệp
+ Hãy tươi cười với mọi người
+ Hãy cố gắng duy trì tinh thần phấn khởi của mình và của những người xung quanh
+ Hãy chào hỏi đồng nghiệp khi đến nơi làm việc, có cách xưng hô phù hợp để duy trì quan hệ công tác bình thường và kỷ luật lao động tốt.
+ Hãy biểu hiện lòng chân thành với mọi người. Hãy đến với nhân viên bằng tấm lòng, chú trọng tính văn hóa, nhân văn trong quản lý.
+ Nhà quản lý cần quan tâm đến đời sống, sức khỏe của bản thân và gia đình nhân viên.
+ Hãy biết hài hước đúng lúc.
+ Hãy lắng nghe ý kiến của mọi người. Việc lắng nghe ý kiến của cấp dưới có nhiều tác dụng.Nhờ đó, nhà quản lý biết được tình hình hoạt động của đơn vị; Biết được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng để kịp thời điều chỉnh hoạt động quản lý; Biết được mức độ chính xác và hợp lý của những quyết định.Từ đó nhà quản lý có thể khai thác, phát huy sức mạnh trí tuệ của tập thể, khuyến khích tính tích cực sáng tạo của cấp dưới.
+ Biết giao nhiệm vụ cho cấp dưới một cách lịch thiệp

+ Hãy chú ý đến công việc của cấp dưới. Cần thấy được thành tích của từng người trong công tác và khen ngợi họ. Điều được khen phải đúng là điều người đó đã làm.Nên đa dạng hóa phần thưởng: bằng tiền, hiện vật, kỳ nghỉ, đề bạt bổ nhiệm…tùy theo điều kiện của cơ quan, đơn vị.
+ Đừng bao giờ quên lời hứa.
+ Hãy nghiêm túc và đòi hỏi sự cố gắng của cấp dưới.Nếu không có sự đòi hỏi và cũng không có yêu cầu cao đặt ra với những người dưới quyền thì họ dễ chán nản, không thích làm việc.
+ Hãy biết phê bình và tự phê bình.Khi phê bình nhắc nhở ai cần tế nhị, điều chủ yếu là để cho họ có cảm xúc ân hận và có ý thức khắc phục khuyết điểm. Một số điều cần chú ý trong việc phê bình người khác:
- Cần nói ưu điểm của họ trước, sau đó mới nêu khuyết điểm.

- Không phê bình người cấp dưới khi có mặt người thứ ba

- Chỉ cảnh cáo phê bình trước tập thể sau khi góp ý nhiều lần mà người đó vẫn không tiến bộ.

- Khi nhân viên mắc lỗi đến mức bị thi hành kỷ luật thì nhà quản lý cần tìm hiểu nguyên nhân khách quan và chủ quan, xem xét quá trình công tác, xem xét lỗi lầm đó là hiện tượng hay bản chất. Cần thận trọng khi quyết định hình thức kỷ luật đối với một người bởi vì điều đó sẽ có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần, danh dự của họ.
+ Hãy tin tưởng vào nhân viên, giáo viên. Sử dụng con người trước tiên phải tin tưởng, tôn trọng và trao quyền đầy đủ cho họ
+ Đối xử với mọi người một cách công bằng.
+ Sử dụng người đúng năng lực, trình độ chuyên môn của họ
+ Hết sức quan tâm tới việc đào tạo, bồi dưỡng người tài, tạo điều kiện cho cấp dưới được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Tạo điều kiện cho họ hòan thành tốt nhiệm vụ cũng chính là hòan thành tốt vai trò, chức trách của nhà quản lý.
Về phía những người cấp dưới, khi giao tiếp với cấp trên cũng cần lưu ý một số điểm sau đây:
+ Hãy tuân thủ trật tự trong hệ thống quản lý, tôn trọng người lãnh đạo.
+ Không được vượt cấp trong hệ thống quản lý.
+ Giữ những quan hệ tốt đẹp với mọi người, thủ trưởng cũng như đồng nghiệp của mình.
+ Hãy làm tốt công tác của mình.Tinh thông trong công việc của mình nhưng đừng tỏ ra kiêu ngạo.Trong công việc cần chăm chỉ, thực thà.Cần có năng lực phối hợp với các đồng nghiệp khác để hoàn thành nhiệm vụ.Cần phản hồi thường xuyên với lãnh đạo về việc thực hiện công việc của mình bằng cách thực hiện nghiêm chế độ báo cáo thỉnh thị theo yêu cầu của thủ trưởng.
+ Tích cực tham gia vào việc xây dựng các kế hoạch hoạt động của nhà trường.Thẳng thắn trình bày những ý kiến cá nhân đóng góp cho công việc chung.Sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ trong phạm vi khả năng và chức trách của mình.
+ Tiếp nhận những lời phê bình của cấp trên một cách vô tư, cầu thị
+ Quý trọng thời gian của người quản lý, khi báo cáo công việc nên trình bày ngắn gọn, rõ ràng, cụ thể.
+ Hãy cư xử khéo léo, không nói xấu hoặc chê bai họ sau lưng
+ Hãy học hỏi những phong cách và những kinh nghiệm tốt của người lãnh đạo
Tóm lại, các mối quan hệ cá nhân lành mạnh tạo có tác dụng nên mối quan hệ lành mạnh trong tập thể. Các mối quan hệ cá nhân được xây dựng dựa trên sự hiểu biết, sự thông cảm lẫn nhau và dựa trên những mục tiêu chung của tập thể.Thiết nghĩ đây cũng chính là một phần quan trọng trong việc thực hiện cuộc vận động “Dân chủ – Kỷ cương -Tình thương – Trách nhiệm”. Có thể nói để xây dựng được các mối quan hệ cá nhân tốt đẹp giữa Hiệu trưởng với các giáo viên, nhân viên và giữa các cán bộ giáo viên với nhau cần phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản: cởi mở, tôn trọng, chân thành, tin tưởng nhau, đối xử công bằng, biết đánh giá, biết sử dụng đúng người đúng việc, biết động viên khuyến khích và khen ngợi người khác đúng lúc và kịp thời.
Tuy nhiên cũng cần phải nhận thức được là việc có được các mối quan hệ cá nhân tốt vẫn chưa đủ để tạo ra bầu không khí làm việc tích cực trong nhà trường. Để có được bầu không khí sư phạm lành mạnh, người Hiệu trưởng còn phải xây dựng được các mối quan hệ giữa các tổ chức trong nhà trường, giữa các tổ chức với các cá nhân một cách lành mạnh.

- CNTT TRONG MÔI TRƯỜNG ĐÀO TẠO GV MỸ THUẬT – ÂM NHẠC

Bùi Ngọc Hưng
Phòng QLKH&HTQT
Trường ĐHSP Nghệ thuật TW
Đặt vấn đề:
Trong thời đại CNTT phát triển không ngừng. Mỗi chúng ta đều muốn có một vài kiến thức về CNTT để trau dồi thêm chuyên ngành của mình đã được học. Do vậy CNTT luôn hiện diện trong công việc hàng ngày của cuộc sống.
Trường ĐHSP Nghệ thuật TW là trường đại học đầu tiên và duy nhất trong đào tạo giáo viên nghệ thuật cho ngành giáo dục – đào tạo. Đặc thù của trường đào tạo giáo viên Âm nhạc – Mỹ thuật do vậy CNTT trong trường cần đẩy mạnh CNTT để đào tạo những giáo viên có được những kiến thức cơ bản, chuyên sâu nghệ thuật để khi ra trường không bỡ ngỡ với thời đại hiện nay.
Sinh viên của trường ĐHSP Nghệ thuật TW có năng khiếu về âm nhạc và mỹ thuật có khả năng vận dụng tốt vào chuyên ngành mình học, nhưng khi học về Tin học nhiều sinh viên còn bỡ ngỡ về CNTT, hơn nữa chương trình học không đi sâu vào thực tế mà đúng chuyên ngành sinh viên đang học.
Thực trạng:
Theo chương trình của Bộ Giáo dục và đào tạo về Nội dung giáo trình Tin học 60 tiết dành cho bậc trung cấp hoặc 45 tiết cho bậc cao đẳng không tập trung vào đúng chuyên ngành sinh viên học trong trường ĐHSP Nghệ thuật TW.
1. Yêu cầu quá cao cho các sinh viên hệ trung cấp.
2. Thời gian quá ngắn cho các sinh viên hệ cao đẳng.
3. CNTT chưa phù hợp chuyên ngành các sinh viên đã học.
Do vậy khi sinh viên đến lớp chỉ học đối phó, cho qua môn học do không phải là môn học chính. Đồng thời quá khó đối với sinh viên về chuyên ngành Âm nhạc và Mỹ thuật.
Những Modun cần thiết để sinh viên ứng dụng vào công việc khi ra trường để giảng dạy lại ít (Modun Powerpoint – 5 tiết). Chuyên ngành Mỹ thuật không có Modun ứng dụng về Photoshop hay Corel, chuyên ngành Âm nhạc không ứng dụng về Enco hay một số phần mềm khác…
Do vậy sinh viên đến lớp không được học đúng và được đào tạo CNTT đúng chuyên ngành của mình đã học dẫn đến tình trạng như trên tôi đã trình bày.
Chương trình và nội dung giáo trình tin học cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp không phải là chuyên ngành nghệ thuật thì phù hợp nhưng với đặc thù của trường ĐHSP Nghệ thuật TW là trường nghệ thuật còn quá khó và chưa đúng chuyên ngành đào tạo.
Kiến nghị:
Để đào tạo những giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật phù hợp với xu hướng đẩy mạnh CNTT cho các trường nghệ thuật cần thêm những Modun phù hợp với thực tế của trường như:
- Với hệ cao đẳng cần tăng thời lượng tiết học từ 45 tiết lên 60 tiết
- Giảm các bài học trong Modun Các vấn đề căn bản về CNTT và TT, Modun Soạn thảo văn bản (Winword) và Modun Bảng tính điện tử (Excel)
- Thêm những Modul về phần mềm chuyên ngành như Photoshop, Corel, Enco để sinh viên học đúng chuyên ngành đào tạo.
- Nên có một giáo trình về CNTT dành cho các trường đào tạo về nghệ thuật để phù hợp với thực tế đào tạo.
Trên đây là một số ý kiến mang tính cá nhân, nhưng cũng là thực tế trong trường ĐHSP Nghệ thuật TW rút ra từ thực tế đã giảng dạy trong trường. Rất mong quý vị đại biểu bổ sung những ý kiến còn thiết sót trong bài để có một chương trình phù hợp đào tạo cho các trường nghệ thuật
Xin trân trọng cảm ơn.

- Thiết kế đồ họa: Ảo tưởng và thực tế

Năm 2010, VN sẽ cần khoảng 1 triệu nhân lực trong lĩnh vực quảng cáo trên báo in, truyền hình, internet cũng như sản xuất game, web, sản xuất phim, truyền thông... Qua đó để thấy thiết kế đồ họa nói chung và lĩnh vực Mỹ thuật đa phương tiện (Multimedia) nói riêng đang “hút” giới trẻ như thế nào! Nhưng, những người trẻ đã thực sự “hiểu” nghề hay thiết kế đồ họa vẫn còn là ẩn số với họ?
“Đì rai nơ” nghĩa là…
Một ngày của Lê Thanh Tùng (21 tuổi) bắt đầu với lịch làm việc khá căng: Sáng học thêm ở trường Mỹ thuật Công nghiệp, chiều làm ở báo Hoa Học Trò 2!, tối học thêm ở FPT - Arena, buổi đêm sáng tạo trên máy vi tính. Một nhịp sống nhanh, năng động và cuốn hút! Nhiều bạn trẻ đang ước ao được như thế, hòa mình trong cộng đồng dân thiết kế sôi động.
Nhưng thực tế, nhiều bạn chưa hiểu thế nào là design hay nói đúng hơn là nghề thiết kế đồ họa, thậm chí không thể phân biệt được các danh xưng trong nghề “thời thượng” này. Ví dụ một người có thể kiêm phần concept và layout thì được gọi là Designer. Còn một người chỉ làm phần Layout dưới một concept của một Art Director thì được gọi là Layout Artist. Sau khi thiết kế xong, một bộ phận riêng biệt khác sẽ làm nhiệm vụ Pre-press…
Design theo từ điển có nghĩa là thiết kế. Nhưng, để có một thiết kế đẹp thì phải trải qua nhiều công đoạn mà bắt đầu là Concept (ý tưởng dành cho thiết kế), sau đến là Photography (Ảnh dùng trong đồ họa graphic design), kế đó mới đến phần Layout (Dựng trang). Và, cuối cùng không kém phần quan trọng là Pre-press (Chế bản cho in) và Printing / Color Proof (In ấn mẫu màu). Từ ý tưởng nghệ thuật đến việc thể hiện luôn đòi hỏi người thiết kế phải sáng tạo, tìm tòi. Và cuối cùng, sau khi đã có từ vài tới vài chục mẫu hàng, người thiết kế mới chọn được cho mình một sản phẩm phù hợp nhất.
Hấp dẫn
Điểm hấp dẫn nhất ở nghề này là không bị gò bó về cách suy nghĩ cũng như có “đất” để những người trẻ thể hiện bản thân. Nhiều bạn trẻ ngay trong quá trình học đã có thể “mài đũng” ở các tòa soạn báo. Chỉ là cộng tác viên thiết kế hay stylist nếu bạn thực sự đam mê và năng động. Có lẽ không nhiều nghề có cái điểm đặc trưng khá kỳ lạ như nghề thiết kế báo: đó là làm ra một sản phẩm đẹp để độc giả chú ý đến... một sản phẩm khác. “Mình đã tiến bộ bằng những kỹ năng thực tế, cái mình có được là biết được tính "kết nối" với độc giả, rất có lợi cho sau này, vì công việc design chuyên nghiệp là sự kết nối sản phẩm được quảng cáo với người xem. Những minh họa và thiết kế của bọn mình chắp cánh cho những trang báo đến với độc giả dễ dàng và sâu hơn, đưa trang báo đó lên một tầm mới đẹp hơn, truyền tải hơn” – Tùng chia sẻ!
Nhưng không giản đơn
“Nghề vẽ bậy”, theo như dân thiết kế vẫn thường tếu táo với nhau, không hề đơn giản chút nào. Nhiều người nghĩ rằng để làm được thiết kế đồ họa, chỉ cần thành thạo các phần mềm ứng dụng như Photoshop, QuarkXPress, Ilustrator… là đủ. Nhưng, không chỉ dừng lại ở khả năng sáng tạo hay năng khiếu mỹ thuật, nó còn đòi hỏi vốn hiểu biết rộng và có một cái nhìn bao quát trong từng vấn đề, lĩnh vực nhất định.
Chất “nghệ” trong thiết kế đồ họa cũng khác xa lắm với nghệ thuật thuần túy. Dân “đì-rai” chuyên nghiệp không bao giờ có câu “Lúc nào có hứng mới làm được” mà đã làm nghề và chuyên nghiệp thì dù khách hàng có ngồi kè kè bên cạnh vẫn phải có hứng và có ý tưởng sáng tạo. Còn máu nghệ sĩ hay cái gì đó “phiêu phiêu” hoặc tương tự như vậy chỉ là một phần bản chất trong con người chứ không thể áp dụng vào công việc chuyên nghiệp đòi hỏi thời gian và khối lượng. Bạn luôn phải active với một cái đầu ăm ắp các ý tưởng sáng tạo cũng như sự hứng thú làm việc không giờ giấc và “nhạy” với những yêu cầu của khách hàng mọi lứa tuổi.
Tùng tâm sự: “Thường thì máu “phiêu” của tớ phải tạm thời gạt sang một bên khi tớ bắt tay vào làm việc tại công ty thiết kế business design như Leonito. Khi ấy, cách làm việc chuyên nghiệp, hoàn thành đúng deadline, và khả năng chịu áp lực tốt lại được đánh giá cao hơn kỹ năng. Làm cho báo 2!, may mắn là các anh chị vẫn cho tớ đất để tớ sáng tạo ra những thứ kỳ quái, còn khi làm với bên FPT-Arena, thì tớ thực sự nói được tiếng nói của mình. Hạn chế những cái "phiêu" đồng nghĩa với làm mất đi một phần ý tưởng sáng tạo, phải chấp nhận thôi, vì khi mình bắt tay làm việc một cách chuyên nghiệp, thì còn nhiều thứ cần cố gắng ngoài kỹ năng bản thân. Gạt bỏ tư tưởng "một mình một núi" và tính nghệ sĩ khi làm việc nghiêm túc, nhưng “phiêu” hết mình với những project có đất cho mình bay nhảy. Làm sao hạn chế cái tôi, cái phần “con” của mình để hoà vào công việc tập thể mới là điều khó”!
“Nghề thiết kế thường được cho là nghề thỏa sức sáng tạo, nhưng sự thật không văn vở như thế, nó chỉ là những sáng tạo trong khuôn khổ nhất định! Đơn giản bạn không thể áp đặt suy nghĩ cá nhân cho tất cả những tác phẩm của mình được, những tác phẩm mình làm ra không chỉ cho riêng mình mà cho tất cả mọi người. Có nhiều bạn hiểu sai về thiết kế, cứ nghĩ đó phải bay bổng, thể hiện cá tính, phong cách và một cái “tôi” to đùng của tác giả trong đấy. Điều đó chỉ đúng trong nghệ thuật. Chất nghệ sĩ trong thiết kế khác với trong nghệ thuật thuần túy… Phải xác định là bạn đang làm một tác phẩm chứ không phải một bức tranh”, Diệu Khánh – Art Director của báo HHT bổ sung!
Địa chỉ “vàng” đáng tin cậy
Nghề “design” thuộc vào nhóm nghề kỹ năng, người ta không nhìn vào bằng cấp để đánh giá. Cái mà người ta đánh giá một nhà thiết kế đồ hoạ chủ yếu dựa vào thực lực, qua chính những sản phẩm mà họ đã và đang thực hiện.
Tại Hà Nội và TP.HCM, hiện có 2 đơn vị là FPT - Arena và Arena Multimedia đào tạo hơn 2.000 học viên ngành Mỹ thuật đa phương tiện. Ở Việt Nam, số lượng trường đào tạo chuyên gia thiết kế đồ họa chuyên nghiệp không nhiều, như trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp, Đại học Mở, … Tuy nhiên, hầu hết những trường này chủ yếu đào tạo về mặt mỹ thuật, còn phần “đa phương tiện” lại rất hạn chế, sinh viên được thực hành rất ít, các doanh nghiệp sẽ rất vất vả trong công tác đào tạo lại.
Và những cơ hội mở ngỏ
Lê Thanh Tùng chia sẻ: “Nó là sự mới mẻ vì nó có đầy đủ: tính năng động, cạnh tranh, công nghệ, tiền tươi thóc thật, tính thời đại, tính sáng tạo... Và, thực sự nó là một cái gì đó có khả năng làm thay đổi cuộc sống của một ai đó. Bạn trượt đại học, bạn ở nhà buồn… rồi một ngày bạn được học ở FPT-Arena, bạn tiếp xúc với môi trường học tập mới, sáng tạo năng động, và bạn may mắn có tố chất sáng tạo trong người, chưa ra trường đã có công việc ổn định… Nghề này luôn công nhận "khả năng" hiện tại mà bạn có” Hiện nay đang làm ở công ty Leonito, Tùng thực sự đã đi được những bước khá vững trong nghề!
Bên cạnh đó, sự đổi mới tư duy của các doanh nghiệp và sự năng động của các chuyên gia đồ họa đã tạo nên một luồng nhận thức coi trọng thiết kế đồ họa và mĩ thuật ứng dụng. Không phải ngẫu nhiên mà người ta đua nhau đi học thiết kế đồ họa. “Đầu ra” mở rộng, đầy tiềm năng và kiếm tiền khá là những điều cực hấp dẫn với người trẻ. Chỉ cần bạn là người có kinh nghiệm và vững tay là hoàn toàn có thể đạt mức lương từ 5-10 triệu đồng/ tháng. Thêm vào đó luôn có một lớp “đàn anh” đang mong mỏi đào tạo nên những thế hệ thiết kế trẻ tài năng. Như anh Khánh Duy (báo Thế giới học đường) thổ lộ: “Anh bén duyên với nghề từ ngày còn rất nhỏ và nó thực sự trở thành đam mê của anh khi anh 16 tuổi. Thành công thì có nhưng chưa thể đánh giá ngay lúc này. Vì có thể hôm nay bạn là “vơ đét” nhưng ngày mai sẽ có thế hệ nối tiếp. Nhiệm vụ của anh bây giờ là đào tạo lớp trẻ, truyền cho họ “lửa”. Vì người trẻ luôn sáng tạo nhưng khi học cần có người làm nền móng cho họ”.
Vậy còn bạn, bạn có sẵn sàng “tiếp lửa” khi gia nhập vào đội ngũ thiết kế trẻ này không?

- Mỹ thuật đa phương tiện, nghề hấp dẫn bạn trẻ

Mỹ thuật đa phương tiện - Multimedia Graphic Design (MTĐPT) là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc sáng tạo, thiết kế những sản phẩm mang tính đa phương tiện và tương tác, ứng dụng trong các lĩnh vực truyền thông quảng cáo, giáo dục và giải trí.

Nghe có vẻ phức tạp nhưng hiểu 1 cách đơn giản, đó là việc thiết kế đồ họa, trò chơi điện tử, làm hoạt hình 3D, thiết kế Web, làm phim... tất cả đều thực hiện trên máy tính. Và hầu như các sản phẩm truyền thông (quảng cáo, truyền hình, Internet,...) và giải trí hiện đại (trò chơi điện tử - games, điện ảnh, hoạt hình,...) bạn sử dụng và thưởng thức ngày nay phần nhiều là sản phẩm của MTĐPT. Đơn giản hơn bạn có thể hiểu MTĐPT là sự kết hợp giữa Công nghệ thông tin và nghệ thuật. Đồ họa, mỹ thuật, điện ảnh...được thể hiện và sáng tạo bằng các công cụ máy tính hiện đại. Bạn xem 1 đoạn quảng cáo không chỉ còn là 1 lời giới thiệu nữa mà đó là 1 tác phẩm. Ý tưởng quảng cáo của người thiết kế được thể hiện trực tiếp trên máy tính. Những công việc như vẽ minh họa, hình ảnh sản phẩm, khối lượng chữ... đều được sắp đặt và thực hiện bằng máy tính. Bạn xem 1 bộ phim, đó hiển nhiên là 1 tác phẩm nghệ thuật. Việc dựng phim, lồng tiếng và kỹ xảo hiện nay đều thực hiện bằng máy tính. Thậm chí có cả những diễn viên ảo được tạo ra bởi máy tính như nhân vật Gollum trong Chúa tể những chiếc nhẫn ( Lord of the rings) hay đười ươi Kong trong KingKong. Nếu không có máy tính - công cụ sáng tạo thì người thiết kế sẽ rất bị hạn chế và cũng đồng nghĩa chúng ta không có những tác phẩm hiện đại. Bởi vậy, có người đã ví rằng MTĐPT là tất cả những gì bạn có thể làm được mà trước đây bạn chỉ có thể tưởng tượng ra. MTĐPT mở ra khả năng sáng tạo vô cùng lớn, phá vỡ những hạn chế sáng tạo từ trước đến nay.
Nếu trước đây để làm 1 bộ phim như Công viên Kỷ Jura, người ta cần 1 dàn máy tính rất mạnh và vô số nhân lực thì bây giờ với 1 chiếc máy tính cá nhân và 1 ý tưởng bạn có thể tạo ra những tác phẩm quy mô nhỏ nhưng với độ trung thực gấp bội. Thậm chí người ta còn tìm thấy rất nhiều các phim hoạt hình 3D có giá trị của các nghệ sỹ tự do trên Internet.
Những tố chất giúp bạn thành công trong MTĐPT
Năng khiếu nghệ thuật, đặc biệt là tư duy thẩm mỹ và tạo hình
Công việc của bạn là tạo ra các sản phẩm sáng tạo và bạn cũng là 1 người nghệ sĩ. Bởi vậy, 1 yếu tố cực kì quan trọng là năng khiếu nghệ thuật. Năng khiếu đó có thể về hội họa, âm nhạc, điện ảnh hay thậm chí văn học. Tất cả đều giúp ích cho bạn sáng tạo ra 1 sản phẩm MTĐPT. Đôi tai thẩm âm tốt giúp bạn trong các công việc về biên tập và làm hiệu ứng âm thanh. Năng khiếu về văn học giúp bạn tạo nên những ý tưởng, những kịch bản hấp dẫn cho quảng cáo hay phim ảnh.
Đặc biệt, tư duy thẩm mỹ và tạo hình sẽ giúp bạn thành công rất lớn trong lĩnh vực này. Không phải vô cớ mà người ta gọi là "Mỹ thuật đa phương tiện". Bởi trong đó ngôn ngữ tạo hình đóng vai trò rất quan trọng: phương tiện truyền tin bằng hình ảnh là phương tiện hiệu quả nhất. Có tư duy thẩm mỹ mới giúp bạn tạo ra sản phẩm đẹp, gây kích thích thị giác và truyền đạt nội dung một các hiệu quả đến công chúng.
Khả năng sáng tạo cao đồng thời với việc có 1 kến thức rộng
Một lần nữa nhắc lại công việc của bạn là công việc sáng tạo cho các ngành truyền thông, quảng cáo và đặc biệt là giải trí. Một cách hiển nhiên, nó đòi hỏi bạn phải sáng tạo. Đó là những khả năng tạo ra những cái mới, ý tưởng mới, khác với cái đã có.
Nếu sản phẩm bạn làm ra giống 1 cái gì đó đã tồn tại thì sản phẩm của bạn hầu như sẽ gặp thất bại. Ai cần những cái mà người ta đã có, đã thưởng thức. Hãy nghĩ lại xem bạn nhớ nhất quảng cáo nào trên TV. Đó chắc hẳn là 1 quảng cáo độc đáo, có ý tưởng hay. Những quảng cáo giống nhau sẽ gây nhàm chán và người ta không nhớ đến nó, kéo theo là người ta cũng chẳng mua sản phẩm.
Nhưng làm thế nào để tạo ra cái mới? Bạn tạo ra cái mới từ những cái cũ, phát triển nó, biến đối nó hoặc kết hợp nhiều cái cũ với nhau theo 1 quan hệ mới. Vì thế, bạn phải hiểu biết về cái cũ và những quy luật của chúng. Có nghĩa là bạn cũng phải có kiến thức rộng về các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, khoa học... Đó chính là nguyên nhân mà người ta nói "mọi ý tưởng đến từ sự hiểu biết".
Kiên trì và chuyên nghiệp trong công việc
Kiên trì là đức tính cần có để thành công trong tất cả mọi việc. Nó lại cần thiết hơn trong 1 lĩnh vực mà các dự án có thể dài hàng năm và mỗi một chi tiết nhỏ trong công việc đều ảnh hưởng đến khả năng thành bại. Còn chuyên nghiệp là đức tính phải có trong những lĩnh vực hiện đại. Một môi trường chuyên nghiệp, hiện đại làm sao có thể có những con người không quy củ về mặt tiến độ hay giờ giấc được. Ngay từ bây giờ, hãy rèn luyện ngay đức tính đó.
Khả năng tiếp cận với các công nghệ mới đặc biệt là công nghệ thông tin
Là một ngành ứng dụng rất nhiều thành quả của công nghệ thông tin, bởi vậy bạn phải có khả năng nhanh chóng học hỏi, áp dụng chúng trong công việc của mình. Những công nghệ mới sẽ giúp cho công việc của bạn dễ dàng hơn và cung cấp cho bạn những công cụ sáng tạo để bạn thực thi những ý tưởng mà trước đây chưa thể làm được.

- Phê bình mỹ thuật Việt Nam

1. KHÔNG CÓ GÌ NẾU KHÔNG CÓ PHÊ BÌNH
Hội Mỹ thuật Việt Nam có số lượng hội viên lên đến năm, bảy nghìn họa sĩ. Sinh hoạt mỹ thuật trong nước, nhìn chung, nhộn nhịp. Hàng năm, ở cấp quốc gia, có ba, bốn giải thưởng mỹ thuật lớn. Còn triển lãm, ở Sài Gòn, Hà Nội, tháng nào cũng có vài ba cuộc. Hoạt động gallery khá rộn ràng - kẻ mua người bán, cũng "giao lưu với hội nhập"... Và, báo chí cũng thường xuyên có những bài viết về mỹ thuật v.v... Tuy nhiên, nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại thì oái oăm, dường như không thực sự tồn tại.
Không thực sự tồn tại. Bởi, thứ nhất, nó hầu như không có công chúng trong nước. Hoặc có, cũng rất ít. Các cuộc triển lãm, thường, rất ít người đến xem. Mua tranh, cho đến nay, chủ yếu vẫn là người nước ngoài. Và tranh được bán, được mua, phần lớn, cũng thuộc hàng commercial painting (tranh vẽ hàng loạt), ít có ý nghĩa khích lệ cho sự tìm tòi, sáng tạo. Còn các bài viết về mỹ thuật trên các báo, thực tế, chẳng có mấy người đọc. (Bởi vậy mà người viết cứ viết, tha hồ tung hứng...) Nhiều người, rất nhiều người Việt Nam không biết gì về mỹ thuật nước mình - vài cái tên họa sĩ biết được, chủ yếu là do đọc tình cờ trên báo chí... Thứ hai, nó hầu như chẳng có tác động gì đến sự vận động, phát triển của nền văn minh thị giác Việt Nam. Các nhà thiết kế trong các lãnh vực mỹ thuật ứng dụng, khi đi tìm những chất liệu mới, những kỹ thuật mới, và cả những tiêu chuẩn thẩm mỹ mới cũng chẳng mấy khi nhắm vào nó. Ðể có vẽ dân tộc, họ tìm về nguồn nghệ thuật dân gian. Ðể có vẻ hiện đại, họ lật ngay sách vở ngoại nhập. Tất cả những gì đang có trong thế giới sự nhìn Việt Nam, nếu không phải là đồ theo kiểu xưa, thì cũng theo kiểu Tây, kiểu Tàu, kiểu Nhật... Ai cũng nói về tính dân tộc này nọ trong mỹ thuật, nhưng chẳng có ai chỉ ra được những cái mã (codes), những qui ước văn hóa thực sự mang bản sắc Việt Nam trong ngôn ngữ tạo hình... Ðến nay, vẫn loanh quanh một kiểu nói chung chung, mơ hồ. Thứ ba, nó hầu như không kích thích được nhiệt tình sáng tạo nơi các họa sĩ, không sản sinh ra nổi các lực lượng họa sĩ kế tiếp. Không ít họa sĩ đã thú nhận không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự sáng tạo. Trước mắt họ, mỹ thuật Việt Nam là một chuỗi liên tiếp những truyền thống dở dang. Những biến thiên của thời cuộc với những xoáy lốc cơ luận đến từ bên ngoài tác động đến cả nền văn hóa học thuật đã mang đến những truyền thống thay thế liên tiếp này. Và, khi mà mỗi một sự thay thế đồng nghĩa với một sự đứt gãy thì sự tồn tại như đánh đu giữa những truyền thống dở dang của mỹ thuật Việt Nam hiện tại có thể xem là hệ quả đương nhiên. Nói chung, không có được nguồn năng lượng nội tại thì cũng không hy vọng làm được điều gì mới mẻ. Các họa sĩ, hoặc lặp đi lặp lại chính mình, hoặc lặp đi lặp lại người khác. Các giải thưởng mỹ thuật hàng năm, quanh đi quẩn lại cũng bấy nhiêu gương mặt. Chưa kể, các khuynh hướng nghiệp dư ngày càng lấn lướt, lan tràn...
Thực trạng nêu trên đã nằm trong nhận thức của nhiều họa sĩ, và rất nhiều câu hỏi "tại sao?" đã được nêu ra. Tuy nhiên, dường như, tất cả đều chỉ dừng lại ở sự thừa nhận: "Ðể làm nghệ thuật đã khó, để có được một nền nghệ thuật dân tộc-hiện đại lại càng khó hơn. Ðiều này đòi hỏi các họa sĩ phải cố gắng rất nhiều..."
Sự thực, để có được một nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại, không chỉ cần sự cố gắng của mỗi họa sĩ, mà thực tế, cần hơn hết, sự thay đổi trong cách tiếp cận nghệ thuật của cả cộng đồng, bao gồm cả giới sáng tác lẫn giới phê bình, lý luận và giới thưởng ngoạn. Cách tiếp cận ấy phải đụng phạm đến toàn bộ nền móng của nền mỹ thuật, đến các cơ sở tồn tại và phát triển của nó - từ các yếu tố chi phối, ảnh hưởng đến các nhận thức về ý nghĩa, giá trị nghệ thuật v.v... Nói cách khác, là phải tiếp cận từ cội nguồn văn hoá xã hội và cơ sở học thuật của nó....
Thực ra, tiếp cận mỹ thuật từ tổng thể văn hoá mỹ thuật, ở Việt Nam, không phải là chuyện mới mẻ. Ít nhất cũng có một Lê Thanh Ðức được xem là "chuyên gia" qua các bài viết về "Văn hoá thị giác", "Văn hoá tạo hình" và "Vấn đề toàn cầu hoá" v.v... đăng nơi này nơi kia và gây ra tranh cãi trong vòng hai năm qua. Không mới, nhưng rất tiếc cho đến nay, vẫn chưa có công trình phê bình nào theo hướng này đáng kể. Ngay ở Lê Thanh Ðức, tuy có nhiều tâm huyết, nhiều thiện chí, chịu khó đọc, chịu khó nghĩ, nhưng có lẽ, bởi không thực sự mạnh về lý luận, đặc biệt, dường như, kiến thức cơ sở lý luận không cập nhật, hoặc có mà không đến nơi đến chốn, để cho nhãn quan nghệ thuật vẫn lẩn quẩn trong chủ nghĩa nhân bản (humanism) và chủ nghĩa thực chứng (positivism) tiếp thu từ nền văn hoá Pháp vốn đã lạc hậu, cộng thêm sự chi phối của tâm lý thích ở "tầm cao" nên sự tiếp cận của ông còn có khá nhiều bất cập, và các nhận định, khái quát thường rơi vào võ đoán đầy mâu thuẫn. Với những hạn chế như vậy, các bài viết đầy tâm huyết, đầy thiện chí nói trên của ông trở nên phản tác dụng. Không chỉ không thể soi sáng cho thực trạng khủng hoảng hiện nay, kích thích nhiệt tình sáng tạo nơi các nghệ sĩ mà còn làm cho vấn đề càng trở nên rối mù, gây nên những hục hặc không đáng có, làm nản lòng mọi người.
Xưa nay, khi bàn đến chuyện thịnh suy của một nền mỹ thuật, chúng ta thường chỉ chú tâm đến công việc sáng tạo của người nghệ sĩ, đến tác phẩm của họ. Hoạ hoằn mới đề cập đến phê bình. Còn về công chúng mỹ thuật thì dường như là tuyệt nhiên không. Sự tuyệt nhiên không này là một sai lầm. Thậm chí có thể nói là sai lầm tai hại nhất làm cản trở sự phát triển bình thường của một nền mỹ thuật. Ðiều này hoàn toàn dễ hiểu. Bởi, có chú tâm phân loại, phân tầng công chúng mỹ thuật thì mới có cơ sở phân định rõ hệ thống giá trị nghệ thuật trong một chỉnh thể văn hoá mỹ thuật. Và từ đó, mới có cơ sở hoạch định chiến lược phát triển mỹ thuật.
Sự không thật tồn tại của mỹ thuật Việt Nam hiện đại, thực sự là hậu quả của cách nhìn đã trở nên vừa mơ hồ vừa hàm hồ về cái được gọi là "công chúng mỹ thuật" của chúng ta trong nhiều năm qua (trở nên, bởi cách nhìn nào cũng có quãng đúng sai khả dĩ). Khi đã xem công chúng mỹ thuật là khối đông thuần nhất chúng ta vô tình phá vỡ cấu trúc chỉnh thể tự nhiên của một nền văn hoá mỹ thuật. Ai cũng biết, một nền mỹ thuật thực sự tồn tại là tồn tại như một chỉnh thể văn hóa mỹ thuật. Ở đó, những giá trị mới mẻ - từ chất liệu, kỹ thuật đến tiêu chuẩn thẫm mỹ - không ngừng được khai phá. Và, những giá trị đó được định hình trong, đồng thời góp phần làm phong phú thêm, những định chuẩn, những cái mã (codes) riêng biệt của một nền văn hóa. Chỉ với sự tồn tại như vậy, bản thân nền mỹ thuật mới có được nguồn năng lượng thực sự - mang tính nội tại - cho sự vận động, phát triển. Và, mới bảo toàn được năng lượng trong sự vận động, phát triển đó. Ðây là một bài học của lịch sử. Nhìn ra thế giới, bất cứ ai cũng đều dễ dàng nhận thấy, mọi nền mỹ thuật có sức sống đều tồn tại trong một chỉnh thể như thế. Chỉnh thể tự nhiên có mô hình kim tự tháp, mà đỉnh là những tìm tòi sáng tạo mang tính tiên phong, độc sáng của các thành phần ưu tú. Và đáy, là đại chúng với khả năng tiêu thụ và sản xuất. Ðỉnh và đáy có quan hệ hữu cơ. Ðỉnh chỉ lên cao khi đáy không ngừng được mở rộng. Và đáy chỉ mở rộng khi những giá trị mang tính bác học tìm thấy ở đỉnh được chuyển hóa thành những giá trị mang tính phổ cập làm nguồn dinh dưỡng bồi bổ cho đáy. Chính nhờ những mối quan hệ này mà những giá trị mỹ thuật được chuyển hóa thành những giá trị văn hóa. Và cũng chính nhờ những mối quan hệ này mà những giá trị văn hóa mang tính truyền thống được tích hợp, biến đổi trong những giá trị mỹ thuật làm nên những truyền thống (văn hóa) mới thích nghi với thời đại v.v... Khi đã phá vỡ cấu trúc chỉnh thể tự nhiên với các mối quan hệ hữu cơ này, chúng ta chỉ có thể sa lầy từ hết sai lầm này đến sai lầm khác, từ thảm bại này đến thảm bại khác mà thôi. Khi đề nghị "sáng tác phải thật gần với công chúng, phải làm sao cho công chúng có thể cảm thụ ngay được" chúng ta đã làm công việc kéo họa sĩ xuống, mà cũng chẳng nâng được công chúng lên. Còn với nhận định "Tác phẩm đã thực sự thành công, bởi đã thu hút được sự chú ý của đông đảo công chúng", lấy đó làm tiêu chuẩn định giá nghệ thuật, chúng ta đã vô tình cản trở sự tìm tòi sáng tạo nơi các họa sĩ và tạo đà cho tâm lý dị ứng với cái khác lạ nói chung v.v... Ðây là điều có lẽ không cần chứng minh nữa. Cho đến nay, chúng ta đã chẳng có những cá nhân xuất chúng mà ngay cả công chúng mỹ thuật thực sự chúng ta hầu như cũng không có. Khi lên tiếng báo động về sự chi phối, lũng đoạn của uy lực đồng tiền, của khuynh hướng "toàn cầu hóa" này nọ lên các họa sĩ và về sự xâm lấn, tràn ngập của các loại hình "văn hoá - Karaoke" v.v... xem như, chúng ta đã thừa nhận sự thảm bại của mình. Ít nhất, cũng là thừa nhận sự yếu kém ít khả năng miễn dịch, khả năng tự đề kháng.
Cách nhìn mơ hồ và hàm hồ về công chúng mỹ thuật như thế không chỉ tạo ra môi trường không thuận lợi cho sáng tác mà còn kéo theo cách nhìn sai lệch về phê bình, hạn chế hoá tầm nhìn phê bình. Dễ thấy, khi đã xem công chúng mỹ thuật là một khối đông thuần nhất, chúng ta đồng thời mặc định một hệ thẩm mỹ với những điển phạm, qui phạm chỉ có thể mang màu sắc duy ý chí (Bởi chỉ khi phớt lờ vấn đề bản chất của sự cảm thụ nghệ thuật và sự phân hóa tự nhiên của các thành phần xã hội, chúng ta mới có thể xem công chúng mỹ thuật là một khối đông thuần nhất). Với hệ thẩm mỹ mặc định đó, tiếng nói của phê bình chỉ còn là sự hồi âm, diễn giải hay "cảnh báo". Phê bình bị rơi vào thế tuỳ phụ. Bởi vậy, khi xã hội "mở cửa", trước sự tương tác của các nền văn hoá khác, các nền nghệ thuật khác, và trước thực tại, mọi hệ thẩm mỹ và mọi phương pháp sáng tác đều cần phải được xét lại thì điều đó đã vượt ra ngoài khả năng của phê bình, ít nhất cũng là của nhiều nhà phê bình. Phê bình mỹ thuật trong nước không quen và thực tế không được chuẩn bị cho sự phê bình lý thuyết, phê bình học thuật và do đó, khó lòng mang vác nổi nhiệm vụ khai phá, dọn đường... Bởi vậy hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà cho đến nay, với giới sáng tác, phê bình là "cái đi sau", thậm chí là "cái ăn theo" - "có sáng tác, có tác phẩm, có tất cả rồi mới có phê bình". Nhiều người, còn đi xa hơn, cho phê bình là cái gì phù phiếm. Có người không thèm đọc các bài viết phê bình, không thèm quan tâm đến phê bình.
Thực trạng khủng hoảng của mỹ thuật Việt Nam sẽ không được hóa giải, nếu không có một sự phản tỉnh triệt để - ngay từ cội rễ văn hóa, xã hội của nó. Sẽ không có gì nếu không có phê bình. Tất cả những gì chúng ta cần làm hiện nay là củng cố phê bình. Trước mắt, phê bình cần phải được phê bình. Cần tạo môi trường dân chủ cho phê bình.Và, cần phải xây dựng cơ sở học thuật vững chắc cho phê bình.
2. PHÊ BÌNH MỸ THUẬT: CẦN CHO AI?
Phê bình cần cho ai? Ðể có câu trả lời thấu đáo chắc chắn phải dài dòng. Nhưng nhìn vào thực tế trước mắt, điều có thể nói ngay, là dường như chẳng có ai cần đến phê bình. Họa sĩ, số đông, không thèm đọc phê bình. Công chúng, càng không thèm đọc (Hệ quả là báo chí cũng hiếm khi đăng tải các bài viết phê bình thực sự). Và, lạ, ngay cả tổ chức Hội Mỹ Thuật, từ trung ương đến địa phương, tuy có dòm ngó tới lực lượng phê bình, nhưng sự quan tâm, xem ra cũng hết sức qua loa. Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, với số lượng hội viên lên đến hàng ngàn, mà một tờ tạp chí mỹ thuật vẫn không ra nổi. Cả nước, đến giờ, chỉ có hai tờ Mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhưng một tờ là "cái gì đâu đâu!", còn tờ "đúng là Mỹ thuật" thì mảng phê bình cũng chỉ lèo tèo...
Tại sao?
Với họa sĩ. Một số cho phê bình đang có là "dưới tầm"- toàn một kiểu "nói leo", "nói lặp", "nói cố", "vừa hời hợt vừa hợm hĩnh"- không đáng đọc. Một số khác, với niềm tin tài năng sáng tạo là cái gì thiên phú, tiền định, không ai có thể cân chỉnh hay vạch đường chỉ lối cho ai được, nên, không chỉ không đọc phê bình, mà thậm chí, không thèm đọc gì hết. Một số khác nữa, chỉ cần đến phê bình như một thứ công cụ quảng cáo. Trong mắt họ, phê bình nếu không phải là những tên "chọc gậy bánh xe" thì cũng là những kẻ "cơ hội" v.v...
Với công chúng, có lẽ mười mươi đã rõ, ngay với mỹ thuật nói chung họ đã "kính nhi viễn chi" rồi nói gì đến phê bình.
Còn Hội Mỹ thuật các cấp, tại sao cũng lơi lỏng phê bình? Ðây là điều lạ. Tại không có kinh phí tổ chức hoạt động chăng? Tại không tập hợp được lực lượng chăng? Hay cũng tại cho rằng phê bình là chẳng cần cho ai? Hay, khác nữa, tại hoàn toàn không muốn có phê bình?
Chưa cần đi sâu phân tích các nguyên do và chưa cần bàn chuyện đúng, sai ở đây. Chỉ riêng vấn đề phê bình không thực sự tồn tại, cũng đủ để kết luận: mỹ thuật Việt Nam là một nền mỹ thuật bất hạnh.
Bất hạnh. Bởi:
Một, không có phê bình, môi trường mỹ thuật không được bảo vệ trước sự xâm lấn của các yếu tố phi nghệ thuật, của đủ các loại ảo tưởng và ngộ nhận tồn tại trong xã hội. Không lạ gì, cho đến nay, không ít họa sĩ Việt Nam vẫn cứ "đánh đu" giữa đủ các loại mục đích khác nhau bên ngoài nghệ thuật. Người thì như những "cán bộ mỹ thuật", người thì như những "thiền sư, đạo sĩ", người thì như những "nhà giả kim thuật", hay những chuyên gia "sinh sản vô tính" v.v... Cái "giả hình" và các khuynh hướng nghiệp dư tràn lan. Còn các họa sĩ trẻ thì bối rối, đa số không còn phân biệt được đâu là nghệ thuật đâu là phi nghệ thuật nữa. Nhiều người hăng hái đi tìm những thứ đang được cho là mới như "Sắp đặt", "Biểu diễn" và phải lần mò với tâm trạng vừa cả tin vừa hết sức bảo thủ.
Hai, không có phê bình, hệ thống giá trị mỹ thuật không được phân định. Cái bác học với cái phổ cập, cái mới với cái mơi mới, sự tiếp thu, học hỏi với bắt chướt, nhai lại v.v... không được phân biệt. Ðiều đó có nghĩa bản thân nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại cũng trở nên không thật tồn tại. Trong bối cảnh đó, các nghệ sĩ sẽ mãi mãi là những kẻ lữ hành cô độc. Mọi tìm tòi sáng tạo rơi vào hư không. Sẽ không bao giờ có cái được gọi là tiên phong - cái mới bị cái cũ vùi dập và bị cái thời thượng che lấp. Ngay cả các nỗ lực đi tìm bản sắc cũng sẽ trở thành vô vọng. Ai cũng nói về tính dân tộc này nọ trong mỹ thuật, nhưng chẳng có ai chỉ ra được những cái mã (codes), những qui ước văn hóa thực sự mang bản sắc Việt Nam trong ngôn ngữ tạo hình. Ðến nay vẫn loanh quanh một kiểu nói chung chung, mơ hồ. Không phải ngẫu nhiên cho đến nay, không ít họa sĩ Việt Nam vẫn cứ đánh đu giữa đủ các khuynh hướng nghệ thuật hiện đại khác nhau với nghệ thuật dân gian. Họa sĩ thì đông, tranh tượng thì nhiều, triển lãm cũng lắm, nhưng đóng góp gì để làm nên cái riêng của mỹ thuật Việt Nam làm phong phú thêm cho kho tàng nghệ thuật nhân loại thì dường như chẳng có gì đáng kể.
Ba, như một hệ quả đương nhiên, khi môi trường mỹ thuật không được bảo vệ và khi hệ thống giá trị mỹ thuật không được phân định, nói cách khác là khi mà các giá trị nghệ thuật chưa được quy phạm hóa, điển phạm hóa, khi mà phê bình chưa phân lập được các kênh (giao tiếp), các trường (quan hệ), các ngưỡng, độ (giá trị) của các khuynh hướng nghệ thuật cùng tồn tại trong các mối quan hệ thực tại đa chiều... thì trước hết, không thể tiến hành được các hoạt động phổ cập kiến thức mỹ thuật, không thể tiếp thu học hỏi được điều gì thực sự ở nhân loại, không thể chuyển hóa được các giá trị nghệ thuật có được thành các giá trị văn hóa. Ðiều đó có nghĩa, không thể xây dựng được một nền văn hóa mỹ thuật trong một cấu trúc chỉnh thể hữu cơ và riêng biệt. Cả nền mỹ thuật, do đó không có nền móng, không thể bảo toàn được năng lượng cho sự vận động, phát triển. Và thực tế, trở thành cái gì hết sức phù phiếm, vô ích, vô nghĩa. Ðiều này giải thích lý do tại sao, cho đến nay, công chúng vẫn quay lưng trước mọi biến động của đời sống mỹ thuật trong nước, vẫn cứ treo những ấn phẩm trang trí vớ vẩn nhập từ nước ngoài trong nhà; giới sáng tác luôn tự hào về những thành tựu "hội nhập" với "về nguồn" của mình, nhưng các lãnh vực mỹ thuật ứng dụng thì không thể hấp thụ được gì từ đó để phát triển; còn các họa sĩ trẻ thì loay hoay không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự sáng tạo... Mà thực ra, ngay chính Hội Mỹ thuật các cấp, có nhiều dấu hiệu cho thấy, cũng đang rối bời, không biết làm gì để kích hoạt cho sự vận động, phát triển của nền mỹ thuật nước nhà v.v... và v.v...
Nói chung, không có phê bình, nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại, đã không có hiện tại cũng sẽ chẳng có tương lai.
Bằng tất cả ý thức về sự bất hạnh của nền mỹ thuật Việt Nam hiện tại, và các nguyên nhân của nó như vậy, không ai có thể nói phê bình mỹ thuật là chẳng cần cho ai. Nếu chẳng có ai cần phê bình, thì trước hết là bởi bản thân phê bình chưa phải là phê bình. Và tiếp theo, có lẽ, là bởi ai cũng chưa phải là ai!
3. PHÊ BÌNH MỸ THUẬT - THÀ KHÔNG CÓ
Không có gì nếu không có phê bình. Nhưng chẳng thà không có phê bình. Bởi, nếu có mà yếu kém, phê bình chỉ đẩy cơ may "có gì" của mỹ thuật Việt Nam trở nên xa vời.
Ðiều này hoàn toàn dễ hiểu.
Yếu kém, là khi phê bình không biện biệt được thế nào là nghệ thuật, thế nào là phi nghệ thuật; không phân định được thế nào là những giá trị mang tính tiên phong, độc sáng hay bác học với những gì chỉ có nghĩa là tiếp thu, ứng dụng, mang tính phổ cập hay bắt chước, nhai lại, v.v...
Không biện biệt, phân định được những điều nói trên, phê bình trở thành một thứ ruồi nhặng gieo rắc dịch họa. Bởi đơn giản, không làm sáng tỏ được sự thật, nó đẩy người khác vào hoang tưởng, ngộ nhận; không có khả năng phát hiện và đón nhận cái mới, tiên tiến, nó đưa người khác vào vòng cương tỏa của cái cũ, lạc hậu hay cái thời thượng, giả hình v.v... và v.v...
Phê bình mỹ thuật ở Việt Nam đang rất yếu kém. Ðiều này ai cũng đã thấy. Nhưng, trước sự yếu kém đó, nếu cho rằng nó không thực sự tồn tại, hư vô hóa, không đặt nó thành đối tượng để suy xét như đã kéo dài trong nhiều năm qua thì như đã nói ở trên, là một sai lầm "chết người"...
Tuy nhiên, để làm cái công việc suy xét này, trước hết, đòi hỏi phê bình phải tự phê bình triệt để - bắt đầu từ ngay nền tảng học thuật của nó. Khó khăn của sự đổi mới phê bình hiện nay, chắc chắn không phải do hoàn cảnh như nhiều người đã nói, mà chính yếu là do sự khập khiễng với khá nhiều bất cập và thái quá từ ngay nền tảng học thuật của phê bình, và có lẽ, cả thái độ trí thức của những người làm phê bình.
Ðiều có thể nói ngay, phê bình mỹ thuật ở Việt Nam lâu nay được triển khai trên một nền tảng học thuật đã sơ sài lại quá lạc hậu. Cho đến nay, ở mọi cấp độ - chuyên và không chuyên - vẫn một kiểu phê bình "làm sáng và làm sang" cho các họa sĩ. Căn bản, vẫn xem sáng tác là tâm tình bộc bạch, xem tác phẩm là môi trường thể hiện những khía cạnh tinh thần và nhân bản từ tư tưởng, tình cảm của tác giả, và, xem phê bình là hồi âm, diễn giải v.v... Cách nhìn, cách phê bình này thuộc truyền thống nghệ thuật lãng mạn và hiện thực chủ nghĩa, còn vướng mắc rất nhiều trong lối tư duy khái niệm hóa, xem trọng nội dung chỉ định của hình, chỉ khả thủ trong không gian của nghệ thuật lãng mạn và hiện thực chủ nghĩa. Ngày nay, mỹ thuật Việt Nam hầu như đã thay đổi hoàn toàn. Cho dù các họa sĩ có "mộng du" thì mỹ thuật Việt Nam hiện tại vẫn là một thế giới khác khá sôi động với sự ảnh hưởng của đủ các khuynh hướng nghệ thuật đến từ phương Tây, từ tiền hiện đại, hiện đại đến hậu hiện đại. Dừng lại trong nhãn quan như thế, phê bình nếu không rơi vào tình cảnh của những kẻ "nói leo", "nói lặp", "nói cố", "nói nhảm" thì cũng chẳng giúp ích được gì đáng kể cho sự phân định, biện biệt các giá trị, nhằm định hình một trật tự biểu kiến cho thế giới mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Dễ thấy. Một, khi lấy nghệ sĩ làm trung tâm, phê bình rất dễ sa vào khuynh hướng tán tụng, thù tạc, dễ mắc bẫy huyền thoại. Ða số các bài viết phê bình mỹ thuật trong nước lâu nay, vẫn cứ sa đà với chuyện các họa sĩ "vẽ cái gì?" mà rất lơ là, thậm chí mù mờ với chuyện họa sĩ "vẽ như thế nào?"... Hai, sự định vị và định giá tác giả trong nghệ thuật rất dễ trở thành mơ hồ, hàm hồ. Bởi sự đánh giá nghiêng về nội dung luôn dễ bị lôi cuốn theo các tiêu chuẩn bên ngoài nghệ thuật. Chẳng hạn: vị thế xã hội của tác giả, dư luận, mức độ thành công trên thị trường nghệ thuật. Ba, nghiêm trọng hơn, bởi xem nhẹ hình thức, cho hình thức là tuỳ phụ, nó vô tình bỏ qua các vấn đề đặc thù của tư duy thị giác, của ngôn ngữ tạo hình. Từ đó, không thể thâm nhập được thế giới phức tạp và không ngừng biến đổi của nghệ thuật hiện đại; không thể hiện đại hóa cách nhìn nghệ thuật. Trước hiện tượng không ít họa sĩ đã làm theo ngay những gì mới nhất của Tây, nhưng thực ra, chỉ bắt chước được ở dáng vẽ bên ngoài, trong căn để tinh thần vẫn là cái gì rất cũ, không có sức sống... không ít nhà phê bình hoặc chỉ biết hứ háy, phủ định sạch trơn, hoặc "tung hỏa mù" biện minh làm vui lòng các họa sĩ. Vấn đề bản chất của phong cách bị hiểu sai trước hết. Xem phong cánh như một hiện tượng tách biệt - hoặc dựa vào một số thủ pháp, một số môtíp thuần tuý hình thức nào đó... hoặc ngả hẳn sang vấn đề góc nhìn, đặc điểm tư tưởng, thái độ thẩm mỹ của tác giả - thiếu tính thống nhất. Tiếp theo, ý niệm về cái mới, về tính tiên phong, độc sÊng nếu không bị loại trừ, thì cũng mơ hồ. Thậm chí ngay cả các vấn đề thế nào là "dân tộc", là "hiện đại" trong nghệ thuật cũng vậy. Kết quả tai hại nhất, phê bình hoàn toàn bất lực trong việc định chuẩn cho một bản sắc Việt Nam trong mỹ thuật hiện đại và hoàn toàn bị động trong việc định hướng tiếp thu, học hỏi "người khác". Bốn, sự định hướng cho sáng tác và đào tạo dễ bị lệch sang chiều "bồi dưỡng tư tưởng", "rèn luyện đạo đức" - xem trọng cái "tâm" hơn cái "tài". Tình trạng nghiệp dư hóa của Mỹ thuật Việt Nam lâu nay và sự lúng túng của số đông họa sĩ trẻ hiện nay là hậu quả của sự định hướng lệch chiều này...
Trước sự yếu kém của phê bình mỹ thuật trong nước, nhiều người cho rằng "nếu là họa sĩ viết phê bình thì đáng tin hơn", hay "muốn viết phê bình hay thì phải chơi với các họa sĩ" v.v... và v.v... Ðây là điều không chắc. Các họa sĩ có thể nhạy cảm hơn, nhưng thực ra, không có sự cảm nào tách rời khỏi sự hiểu, sự biết. Họ có thể rất tinh tế, sâu sắc trước các đối tượng cùng kênh, cùng hệ, nhưng chưa chắc còn giữ được tính khách quan khi tiếp cận các đối tượng khác quá mới, lạ. Sự hiểu, sự biết của các họa sĩ, thực tế, cũng nằm trên cùng một nền tảng học thuật như phê bình. Trước bối cảnh đổi mới, nhiều người trong họ đã sáng tác với trạng thái "mộng du", và khi viết phê bình, họ lại "mộng du" trên chữ nghĩa...
Thế kỷ 20, trên thế giới, được xem là thời hoàng kim của phê bình văn học-nghệ thuật. Những thành tựu trong các ngành khoa học nhân văn và xã hội, đặc biệt, của tâm lý học và ngôn ngữ học hiện đại, đã mang lại nhiều lý thuyết mới, khả dụng cho phê bình, đổi mới hoàn toàn cách nhìn nghệ thuật, cách phê bình... Ở Việt Nam, cho đến nay, bản thân thông tin này dường như đã là cái gì hết sức xa lạ! Bao giờ phê bình mỹ thuật Việt Nam mới thực sự đổi mới?!
4. PHÊ BÌNH MỸ THUẬT VỚI VẤN ÐỀ LÝ THUYẾT
KHÔNG THỂ MÃI BẤT CẦN...
Trong bài viết ngắn về Nguyễn Sáng qua mắt nhìn Thái Bá Vân đăng trên Thể thao & Văn hóa (tháng 10 năm 2001) nhà thơ Thanh Thảo đã kết luận như đinh đóng cột - đại ý - phải thật gần, thật hiểu tác giả, nhà phê bình mới có được những câu chữ thuyết phục đến vậy! Chưa cần biết Thái Bá Vân nhìn Nguyễn Sáng đúng, sai như thế nào, nhưng điều có thể nói ngay, cái kết luận của Thanh Thảo là liều. Liều, bởi không chắc đúng. Thực tế, nhiều khi tác giả là người như thế này, nhưng tác phẩm lại như thế khác. Trong nghệ thuật, tài với đức, với ý thức công dân, với tinh thần trách nhiệm, với sách vở bồ bồ, và cả với tay nghề thuần thục v.v... chưa chắc đã có gì ăn nhập. Bám theo tác giả, nghe theo tác giả, phê bình rất dễ sa vào khuynh hướng tán tụng, thù tạc, rất dễ mắc bẫy huyền thoại. Không ít họa sĩ nổi tiếng "oan" là vì thế. Và, cho dù có rất nhiều bài viết gọi là phê bình, nhưng công chúng, số đông, vẫn không hiểu gì nhiều về mỹ thuật, vẫn cứ phải "kính nhi viễn chi" cũng là vì thế.
Ðể phê bình thực sự, trước hết, cần phải tránh xa tác giả. Chỉ có một đầu mối duy nhất cần được tiếp cận: tác phẩm. Bởi, trong nghệ thuật, chỉ tác phẩm mới thực sự tồn tại. Tác phẩm "nói lên". Và, sự "nói lên" này, trong phần lớn trường hợp, vượt khỏi tầm kiểm soát của tác giả. Giữa ý thức tác giả và tác phẩm bao giờ cũng có một khoảng cách. Ðiều này có nguyên do. Ðành rằng, tác giả là người tạo ra tác phẩm, nhưng chính hắn, lại là sản phẩm của văn hóa, của lịch sử. Có nhiều điều nằm sâu trong tiềm thức, chế định tầm nhìn, cách nhìn và ngôn ngữ của hắn, mà hắn, nếu không thường xuyên phản tỉnh trong ý thức khôi phục và bảo toàn tự do - nhân tính nơi mình sẽ chẳng hề hay biết. Không ít họa sĩ đã thừa nhận, phải rất lâu sau khi sáng tác, hay qua phê bình, mới hiểu được phần nào tác phẩm của chính mình...
Tác phẩm "nói lên", nhưng để "nghe" được nó, quả thực, không phải là chuyện dễ dàng. Nghệ thuật khác nhau ở những vùng văn hóa khác nhau. Và khác nhau qua từng thời đại. Không hề có một tiêu chuẩn chung, một hệ qui chiếu chung, một căn cứ lý thuyết chung nào cho phê bình. Mỗi cái khác, khác nói trên đều c
Nguồn: Tienve.org

- Học mỹ thuật ra trường thì làm gì?

Tôi trích bài viết của em gái một họa sĩ học ĐH Mỹ thuật mới ra trường với đầy suy tư lo lắng về công việc cho anh trai mình.
A: "Tình hình là em đang thấy lo lắng quá, tháng 6 này anh trai em ra trường (cầu trời là đúng như kế hoặch). Anh em học Đh Mỹ thuật, khoa Hội hoạ. 4 năm ôn thi và 5 năm đi học, đúng là trường kì kháng chiến mà. Vậy mà bây giờ đến lúc ra trường rồi em vẫn băn khoăn ko biết anh em sẽ làm gì, có hỏi anh em cũng bảo chưa biết. Vẽ tranh để kiếm sống thì chưa đc rồi, trong khi đó anh em chỉ biết vẽ, ko biết sử dụng máy tính, sử dụng các phần mềm đồ hoạ... Mà như thế thì em thấy hình như ko có cv nào phù hợp hay sao ấy. Các bố, các mẹ có ai học Mỹ thuật ra ko ạ, cho em vài lời an ủi chứ cứ như thế này em ko biết lúc nào anh em mới có thể lo đc cs cho mình nữa... "

B: có nhiều việc chứ, anh bạn có thể đi vẽ tranh bán,đi dạy vẽ, xin vào các công ty thiết kế, đi chép tranh.... làm biển quảng cáo.. tuy nhiên, tốt nhất nên đi học máy tính hay đồ họa

A: Anh em vốn kĩ tính, mà em ko biết dùng từ này có đúng ko nữa. Anh ấy ko chịu chép tranh đâu, bảo lụi nghề, cũng ko chịu đi dạy, vì trc anh ấy cũng đậu khoa sp nhưng nhất định học hội hoạ, làm biển quảng cáo chắc cũng ko đc rồi, còn vào các cty thiết kế thì phải biết đồ hoạ chứ, vậy nên em mới thấy lo lắng. Sao mà cứ thích hội hoạ nhỉ, mà ai đã đam mê rồi thì ko sao gỡ ra đc, buồn quá...

B: Anh bạn có thể làm nghề storyboard cho các hãng phim, công ty truyền thông sản xuất phim quảng cáo, các đài truyền hình cũng ok đấy.
Ngoài ra mình thấy 1 số nghề cũng khá hay như vẽ tranh tường, nội thất sơn tường (cho các nhà hàng, trung tâm...). Vẽ sơn dầu để độ xe ô tô, xe máy. Vẽ lên các sản phẩm gốm sứ, gỗ, thủy tinh....v..vv...
Nghề này là nghề của nghệ thuật và sáng tạo, nên nếu anh bạn bản lĩnh thì sẽ biết cách sử dụng năng khiếu để kiếm đc rất nhiều tiền của thiên hạ đấy. Keke.
 
C: ông xã mình cũng học mỹ thuật, đang làm quảng cáo, chụp ảnh, họa sĩ hihi... Nói chung còn tùy người nhưng thời buổi này mà không biết sử dụng vi tính là một điểm yếu rồi.
 
B: Graphics design tức là thiết kế đồ họa là nghề rất ăn khách ở nước ngoài. Nếu có thể thiết kế những mẫu nghệ thuật dùng cho các sản phẩm bình thường như cốc tách, thì rất hay. Tiếc là ở Việt Nam chưa phát triển lắm.
 
Hầu hết những công việc các bạn kể đều dành cho các họa sĩ Mỹ thuật công nghiệp hoặc các kỹ thuật viên đồ họa. Những bác đã trải qua được những khó khăn để thi được vào Mỹ thuật và tốt nghiệp được Mỹ thuật (rất hiếm) thì bản lĩnh hơn rất nhiều và chất nghệ cũng đậm hơn nhiều. Người ngoài nhiều khi nhìn vào rất sốt ruột và lo lắng thay cho họ.


C: Nhưng thường thì những bác chất nghệ này lại không có khả năng quan hệ XH tốt nên nếu có được hậu thuẫn tốt của gia đình thì sẽ dễ thành công hơn. Trường hợp chồng của bạn mình: cũng học MT ra, thuộc dạng tài năng hiếm có. Những năm đầu bác í chỉ chuyên tâm vào vẽ tranh, không làm thêm bất cứ việc gì để kiếm tiền. Vợ đi làm, nuồi chồng và cũng cấp màu vẽ, toan xịn cho chồng vẽ. Cũng nhờ vợ và các mối quan hệ tốt của gia đình vợ, sau vài năm bác í mở triển lãm cá nhân, danh tiếng nổi như cồn. Bi giờ thì ổn rồi. Tranh bác í hơi bị đắt giá, hai vợ chồng năm nào cũng xuất ngoại, vẽ tranh và triển lãm, bán luôn ở nước ngoài...Tương lai xán lạn lắm ạ.

Đừng quá lo lắng cho anh trai bạn nhé
 
B: hiện nay cũng có nhiều cơ hội cho các họa sĩ trẻ lắm, họ cũng năng động hơn ngày xưa rất nhiều. Để gây dựng tên tuổi cũng có nhiều cách, thực ra trong giới họa sĩ với nhau họ sẽ tự có được thông tin về những cuộc thi, những sự kiện văn hóa có thể tham gia như thi tranh của Philip Morriss, các hoạt động của Hội Đồng Anh, viện Goeth, TT Văn hóa Pháp..., các triển lãm quốc gia. Nếu Anh bạn thuộc dạng tài năng hiếm thì trước sau cũng sẽ được công nhận thôi

- Muốn học mỹ thuật đa phương tiện ta cần có gì?

Mỹ thuật đa phương tiện - Multimedia Graphic Design (MTĐPT) là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc sáng tạo, thiết kế những sản phẩm mang tính đa phương tiện và tương tác, ứng dụng trong các lĩnh vực truyền thông quảng cáo, giáo dục và giải trí.
Nghe có vẻ phức tạp nhưng hiểu 1 cách đơn giản, đó là việc thiết kế đồ họa, trò chơi điện tử, làm hoạt hình 3D, thiết kế Web, làm phim... tất cả đều thực hiện trên máy tính. Và hầu như các sản phẩm truyền thông (quảng cáo, truyền hình, Internet,...) và giải trí hiện đại (trò chơi điện tử - games, điện ảnh, hoạt hình,...) bạn sử dụng và thưởng thức ngày nay phần nhiều là sản phẩm của MTĐPT
Đơn giản hơn bạn có thể hiểu MTĐPT là sự kết hợp giữa Công nghệ thông tin và nghệ thuật. Đồ họa, mỹ thuật, điện ảnh...được thể hiện và sáng tạo bằng các công cụ máy tính hiện đại.
Hiện tại trung tâm đào tạo mỹ thuật đa phương tiện FPT Arena tại Hà Nội và TP.HCM có dạy. Học viên tham gia chương trình Arena (chia làm bốn học kỳ trong hai năm) sẽ được cung cấp những kiến thức bao quát tất cả các khía cạnh của multimedia như cách thiết kế đồ họa cho báo chí, làm quảng cáo, hoạt hình, dựng phim 3D, xử lý audio và video trong truyền hình, thiết kế website, game, đồ họa vi tính...
Sau khi tốt nghiệp được cấp văn bằng Diploma in Multimedia ( ~ 950 USD/2 học kỳ), Advance Diploma in Multimedia (~ 980 USD). Khi kết thúc khóa học, bạn có thể học tiếp ba học kỳ để lấy bằng cử nhân mỹ thuật đa phương tiện theo chương trình đào tạo liên thông với Đại học Southern Cross (Úc) và các trường đại học Anh, Mỹ, Canada.
Tuy nhiên, theo học chương trình này bạn cần có Anh văn tương đương bằng B và có tư duy về mỹ thuật.
Nhưng thật mắc vì học phí rất lớn...

Có rất nhiều công việc và cơ hội cho bạn ở một trong những lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay.


Giám đốc sáng tạo (GĐST) - Creative Director
GĐST không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất cụ thể. Họ tìm kiếm giám đốc nghệ thuật và các hoạ sĩ thiết kế cho từng dự án. Những người này sẽ phải đưa ra các giải pháp sáng tạo cụ thể trong phạm vi dự án mà họ đc phân công. Giám đốc sáng tạo sẽ gặp gỡ các đội dự án định kỳ để xác định quá trình thiết kế có tiến triển tốt hay không, và liệu nhóm dự án có được hỗ trợ đầy đủ tài nguyên và trang thiết bị hay không. Bằng việc xác lập các quy trình thiết kế và cộng tác trong tổ chức, GĐST phải đảm bảo kiểm soát được chất lượng của sản phẩm ở mọi giai đoạn.
Tóm lại, mặc dù không tham gia vào quá trình sản xuất cụ thể nhưng GĐST có thể đảm bảo chất lượng dự án và hiệu quả công việc thông qua lựa chọn nhân sự, huy động nguồn lực, tổ chức quy trình.
Nếu bạn có khả năng tổ chức tốt, giao tiếp tốt, chịu khó tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu thì đừng bỏ lỡ cơ hội thử sức này.
Giám đốc nghệ thuật (GĐNT) - Art Director
Đây là người chịu trách nhiệm cho mọi sản phẩm mỹ thuật phục vụ cho dự án. Các sản phẩm này có thể có nhiều dạng khác nhau, được tạo ra bởi nhiều công cụ và kỹ thuật khác nhau. Chịu sự quản lý trực tiếp của GĐST, GĐNT tham gia trực tiếp vào mọi công đoạn của quá trình sản xuất. Đôi khi phải trực tiếp làm sản phẩm, nên GĐNT phải hiểu rõ các quy định, công cụ kỹ thuật được sử dụng trong quá trình sản xuất.
Chức danh GĐNT khá phổ biến trong các ngành xuất bản, giải trí và thiết kế.
Để trở thành GĐNT, bạn cần có hiểu biết sâu sắc về các vấn đề của nghệ thuật như typography (nghệ thuật dùng chữ), lý thuyết màu, thiết kế đồ hoạ... Ngoài ra, bạn cũng cần hiểu rõ các yếu tố công nghệ có ảnh hưởng tới các vấn đề trên. Đó là chưa kể đến những hiểu biết về quá trình sản xuất, về các nguồn lực có thể huy động và xây dựng được các tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm.
Tóm lại, nếu bạn có năng khiếu vá hiểu biết rộng về nghệ thuật, kinh nghiệm làm việc và khả năng quản lý, giao tiếp tốt, bạn nên thử sức mình với vai trò GĐNT.
Nghệ sĩ thiết kế đồ hoạ - Graphics Designer
Nghệ sĩ thiết kế đồ hoạ là người lập kế hoạch, phân tích và tìm kiếm các giải pháp thị giác nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của quá trình sản xuất. Họ sử dụng các thông tin dưới dạng bản in, điện tử, hay phim ảnh cùng các công nghệ xử lý để tạo ra các thiết kế làm mê hoặc khách hàng.
Khi thực hiện các thiết kế cụ thể, nghệ sĩ thiết kế đồ hoạ phải tính đến bối cảnh tự nhiên, văn hoá, xã hội, nhận thức... Không ít nhà thiết kế Việt Nam hiện nay chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của các yếu tố này
Hiệ nay, hầu hết các nhà thiết kế đồ hoạ sử dụng các phần mếm máy tính để tiến hành công việc của mình.
Các nhà thiết kế đồ hoạ có thể làm việc theo giờ hành chính trong các công ty hay làm việc tự do. Họ chiếm khoảng 40% số lượng nah2 thiết kế hiện nay. Nhu cầu đối với vị trí này ngày càng tăng do thị trường thông tin qua web và giải trí đang mở rộng nhanh chóng.
Nếu bạn có kiến thức đồ hoạ về đồ hoạ căn bản, có kỹ năng sử dụng các phần mềm đồ hoạ, có khả năng hoà đồng và cộng tác, tại sao không thử sức với vị trí này.
Thiết kế trò chơi (TKTT) - Game Designer
Tương tự như nghệ sĩ thiết kế đồ hoạ, nhưng công việc của nghệ sĩ thiết kế trò chơi giới hạn trong phạm vi hẹp hơn và đặc thù hơn. Họ thiết kế các bối cảnh, mô hình, các tình huống, âm thanh, hình ảnh... cho trò chơi điện tử. Nghệ sĩ thiết kế trò chơi còn phải nắm được các đặc thù của thiết bị chơi (máy tính), Playstaytion, Mobile,...) cũng như hoàn cảnh sử dụng của chúng để thiết kế cho phù hợp. Bên cạnh đó, những hiểu biết công nghệ (chẳng hạn như game engine) cũng giúp ích rất nhiều cho nghệ sĩ thiết kế trò chơi.
Nếu bạn mê chơi game, có khả năng về thiết kế đồ hoạ, hiểu biết về lịch sử, thích đọc tiểu thuyết, và đặc biệt hiểu rõ tâm lý người chơi, bạn hãy thử sức ở vị trí này.
Thiết kế truyền thông tương tác - Interactive Multimedia Designer
Đây là một công việc khá mới mẻ, đòi hỏi nghệ sĩ thiết kế phảm am hiểu nhiều vấn đề khác nhay cùa mỹ thuật đa phươhng tiện. Nhiệm vụ chính của công việc anỳ al2 xây dựng kịch bản, lựa chọn âm thanh, hình ảnh, đồ hoạ và tương tác để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh (như 1 đã CD giới thiệu về lịch sử Việt Nam).
Tương tự trò chơi nhưng đơn giản hơn, 1 sản phẩm truyền thông tương tác (Interactive Multimedia) không chỉ cung cấp thông tin một chiều cho người sử dụng mà còn cho phép họ tham gia vào quá trình này 1 cách chủ động. Có khá nhiều phần mềm hỗ trợ việc tạo ra sản phẩm truyền thông tương tác nhưng các phần mềm của Macromedia (DirectorMX hay FlashMX) được ưa chuộng hơn cả.
Nhu cầu về các sản phẩm truyền thông tương tác đang ngày càng tăng ở VN trong khi nhân lực được đào tạo bài bản cho ngành này hầu như chưa có.
Thiết kế Web - Web Designer
Nhiệm vụ chính của một nghệ sĩ thiết kế website là xây dựng cấu trúc, layout, các quy chuẩn về hình ảnh, chữ viết,...cho từng trang web và toàn bộ website.
Như vậy, để trở thành một nghệ sĩ thiết kế website, trước hết, bạn cần phải là một nhà thiết kế đồ hoạ (Graphics Designer), sau đó bạn cần có các hiểu biết khá kỹ về các công nghệ liên quan đến web như HTML (ngôn ngữ siêu văn bản trên web), CSS (Cascading Style Sheets),...Mặc dù bạn không cần biết sâu về lập trình nhưng không thể không biết bởi sau giai đoạn thiết kế sẽ là giai đoạn lập trình. Nghệ sĩ thiết kế cần phải đưa ra thiết kế khả thi và thuận tiện cho việc lập trình. Một số đặc thù của web như vấn đề tốc độ truyền, màu sắc,... cũng cần được nghệ sĩ thiết kế quan tâm.
Cùng với sự phát triển của internet và các ứng dụng trên nó, vai trò của thiết kế web ngày càng quan trọng, vị trí thiết kế web vì thế cũng trở nên không thể thiếu trong các công ty phần mềm. Hiện nay, với các website quan trọng, người ta thường giao việc thiết kế cho 1 cty thiết kế chuyên nghiệp.
Không quá chuyên sâu như các lập trình viên chuyên nghiệp ở các công ty tin học, các lập trình viên đa phương tiện chủ yếu làm việc với các ngôn ngữ lập trình script (đã đc giản lược cho gần với ngôn ngữ tự nhiên).


Lập trình đa phương tiện - Multimedia Programmer
Không quá chuyên sâu như các lập trình viên chuyên nghiệp ở các công ty tin học, các lập trình viên đa phương tiện chủ yếu làm việc với các ngôn ngữ lập trình script (đã đc giản lược cho gần với ngôn ngữ tự nhiên). Ngoài kỹ năng lập trình, các hiểu biết về kịch bản, thiết kế đồ hoạ, xử lý âm thanh... Cũng rất cần thiết với họ.
Nếu bạn có kinh nghiệm về thiết kế và có khả năng lập trình, chắc hẳn bạn không nên bỏ qua vị trí này?
Nghệ sĩ hoạt hình 2D và 3D - Animator
Các nghệ sĩ hoạt hình 2D và 3D tạo ra các hình ảnh chuyển động bằng những hình ảnh tĩnh nối nhau liên tục. Về nguyên tắc, hai hình thức làm phim nay tương tự nhau, tuy nhiên, các công cụ sử dụng và kỹ năng sáng tạo lại khác nhau rất nhiều. Chẳng hạn, các nghệ sĩ hoạt hình 2D không cần lo lắng đến vấn đề ánh sáng, phối cảnh nhiều như trong hoạt hình 3D.
Dù là 2D hay 3D, một nghệ sĩ hoạt hình giỏi cần phải có khả năng vẽ phác thảo tốt. Họ có thể vẽ tay hoặc vẽ trên máy tính với sự trợ giúp của bảng và bút điện tử.
Cùng với sự phát triển của CNTT, hoạt hình 3D, vốn không thể thực hiện được theo phương thức truyền thống, đang dần lấn át hoạt hình 2D. Hầu hết các bộ phim hoạt hình gần đây đều sử dụng công nghệ 3D. Nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực này đang rất nóng. Thu nhập của các nghệ sĩ hoạt hình 3D, ngoài những tố chất đã nói trên, bạn cần phải sử dụng thành thạo các phần mềm 3D mạnh nhất hiện nay như 3DsMAX, Maya, Lightware 3D,...
Biên tập âm thanh - Sound Editor
Công việc biên tập âm thanh bao gồm ghi âm, chỉnh sửa âm thanh, trộn âm...Trong đó, phần chủ yếu và quan trọng nhất là chỉnh sửa các file âm thanh và chuyển chúng snag định dạng mong muốn. Với các phần mềm và thiết bị hiện đại, nghệ sĩ biên tập âm thanh có thể thực hiện được rất nhiều hiệu ứng hay kỹ xảo trên bản thu âm gốc. Điều này đặc biệt hiệu quả khi ứng dụng trong điện ảnh.
Tuy nhiên, không phải ai cũng làm được công việc này. Trước hết, bạn cần có "tai nhạc" và được đào tạo nhạc lý. Tiếp đó, bạn cần làm chủ một số phần mềm và thiết bị xử lý âm thanh và tìm ra cơ hội của mình trong nghề nghiệp đang có "cầu" lớn hơn "cung" này.
Biên tập hình ảnh - Video Editor
Tương tự như biên tập âm thanh, công việc biên tập hình ảnh được tiến hành trên các file định dạng hình ảnh. Quá trình làm phim bao gồm việc quay nhiều cảnh riêng rẽ. Các đoạn phim này, sau khi được chuyển vào máy tính theo 1 số định dnag5 nhất định, sẽ được cắt xén, ghép với nhau, thay đổi tốc độ, đồng bộ với âm thanh...để tạo thành bộ phim hoàn chỉnh. Phần việc này còn gọi là hậu kỳ (post production) và được các biên tập viên thực hiện.
Quá trình biên tập hình ảnh được thực hiện với sự giúp đỡ của các phần mếm chuyên dụng như Adobe Primier hay Final cut pro. Với các phầm mềm này, bạn cũng có thể dễ dàng tạo ra 1 đoạn video clip cho riêng mình, hoặc tặng cho bạn bè.
Tố chất quan trọng của những gnười làm nghề này là thẩm mỹ thị giác tốt và khả năng làm chủ ngôn ngữ hình ảnh. Nếu bạn có tố chất như vậy, công thêm việc sử dụng thành thạo các công cụ phần mềm biên tập ảnh, bạn hoàn toàn có thể thành công với nghề này.
Người làm kỹ xảo hình ảnh - Visual Effect Creator
Khi chưa có sự trợ giúp của máy tính, hầu hết các kỹ xảo hình ảnh đều phải thực hiện ngay khi quay phim và rất phức tạp. Tuy nhiên, với sự ra đời của các thế hệ máy tính ngày càng mạnh cùng với các phần mềm làm kỹ xảo hiệu quả, phần lớn công việc khó khăn này được thực hiện riêng rẽ với công đoạn quay phim.
Ngày nay, kỹ xảo hình ảnh xuất hiện trong hầu hết các phim ăn khách trên trị trường. Có những phim, kỹ xảo chiếm đến hơn 50% thời lượng phim. Các cảnh phim kỹ xảo cũng ngày càng trung thực khiến người xem đôi khi không phân biệt nổi. Nếu trước kia chỉ các phim có ngân sách lớn mới dám dùng nhiều kỹ xảo thì hiện nay, ngay cả các nhà làm phim nghiệp dư cũng có thể thực hiện được các bộ phim sử dụng nhiều kỹ xảo nhờ vào hệ thống máy tính và các phần mềm ngày càng rẻ và mạnh hơn.
Muốn bước vào nghề này, bạn cần có khả năng kỹ thuật tốt kết hợp với các kiến thức về biên tập video, hoạt hình 3D và cả... ngân sách để mua các phần mềm làm kỹ xảo chuyên dụng.
Người chế bản điện tử - Desktop Publishing
Sự ra đời của các phần mềm chế bản điện tử thực sự là 1 cuộc cách mạng giải phóng con người khỏi những công việc nhàm chán như nhặt từng con chữ sắp vào bản in. Hơn thế, việc sử dụng các phông chữ khác nhau, kết hợp với hình ảnh cũng dễ dàng hơn rất nhiều.
Với vai trò của 1 người làm chế bản, công việc hàng nagỳ của bạn là kết hợp chữ viết, hình ảnh thành 1 tài liệu sẵn sàng để in ấn. Công việc không khó nhưng đòi hỏi bạn phải kiên nhẫn, có các kiến thức tốt về sử dụng phông chữ, và phải có khả năng bố cục, con mắt thẩm mỹ. Bênh cạnh đó, bạn cần phải làm chủ các phần mèm6 chế bản nổi tiếng như Adobe InDesign hay QuarkXperss.
Hieuhoc.com tổng hợp từ tủ sách "Nhất nghệ tinh" của NXB Kim Đồng

- CÔNG TÁC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MỸ THUẬT

CÔNG TÁC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MỸ THUẬT


TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
Ths. Trần Đình Tuấn

Phó Hiệu trưởng

Trường ĐHSP Nghệ thuật TW
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương đã có thành tích gần 40 năm phát triển và trưởng thành, việc được Bộ quyết định nâng cấp từ trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc Hoạ thành trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW thực sự là một vinh dự nhưng cũng đầy thử thách đối với BGH và toàn thể cán bộ giảng viên trong nhà trường. Trong bối cảnh giáo dục đại học chuyển mình như hôm nay, mục tiêu của nhà trường là dần hoàn chỉnh nội dung, phương pháp sao cho phù hợp với xu thế chung của giáo dục đại học. Đó là dạy cái gì xã hội cần, dạy thế nào để đáp ứng với sự đổi mới của giáo dục phổ thông trong sự nghiệp cải cách giáo dục mới, tiến tới xây dựng được thương hiệu nhà trường trong bối cảnh mà nền giáo dục đào tạo nước nhà đứng trước nhiều vận hội và sự cạnh tranh không ngừng.

Bằng trực cảm của người đang đứng trên bục giảng và kinh nghiệm của người quản lý ở khoa chuyên môn nhiều năm, xin đưa ra 2 vấn đề mà cá nhân tôi cho rằng là cơ bản nhất để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Mỹ thuật đáp ứng mục tiêu giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay.

Thứ nhất : Về nôi dung chương trình giảng dạy.

Cần phải một câu hỏi: những tiến trình giảng dạy, các bài giảng của cả 3 tổ bộ môn khoa Mỹ thuật (hình hoạ, trang trí, lý luận) đã thực sự là những kiến thức mà giáo sinh cần chưa?

Với mục tiêu là đào tạo giáo viên nghệ thuật cho các trường phổ thông (tức là trang bị kiến thức nền tổng hợp về mỹ thuật và âm nhạc) không phải đào tạo nghệ sĩ, trong nhiều năm qua chúng ta dạy cho sinh viên thường chú trọng vào kỹ năng vẽ. Đối với bộ môn hình hoạ, học với thời lượng nhiều nhưng lại giảng dạy mang tính kỹ năng mà chưa quan tâm đến việc trang bị những kiến thức về thẩm mỹ rộng và toàn diện hơn đối với từng môn học đó. Theo tôi, thông qua những bài học cụ thể, giảng viên cần truyền đạt những năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho sinh viên và có những định hướng đúng đắn về năng lực cảm thụ nghệ thuật, có như vậy mới đáp ứng được mục tiêu giáo dục ngày nay. Một việc chúng ta đã biết, trong các môn năng khiếu của giáo dục phổ thông mục đích chính là khơi dậy năng khiếu thẩm mỹ, bồi dưỡng sự cảm thụ về nghệ thuật. Việc dạy vẽ cho học sinh phổ thông không phải là dạy hay đào tạo các nghệ sĩ tương lai. Chính từ quan niệm chưa đúng vấn đề này nên trong chương trình hiện nay trường đang áp dụng những bài học mang nhiều tính kỹ năng theo tôi là chưa thật chính xác. Đành rằng sinh viên phải biết vẽ hình hoạ, trang trí cơ bản, nhưng thực sự những bài học đó chỉ giúp ích một phần nào cho các em sau này. Ví dụ, trong chương trình của học sinh lớp 6, 7 có các bài vẽ theo mẫu. Chúng ta không nên hiểu đó là hình hoạ đơn thuần và cũng không bắt các em học sinh vẽ như sinh viên vẽ hình hoạ hiện nay. Phải nhìn nhận việc có các bài vẽ theo mẫu chỉ là rèn luyện kỹ năng quan sát đồ vật và thể hiện ở trên mặt giấy như thế nào. Đặc biệt là mối quan hệ giữa đồ vật (như cái ca, cái cốc...) với cuộc sống thường ngày của các em. Thông qua đó giáo viên bồi dưỡng, khơi gợi cảm thụ về màu sắc, về vẻ đẹp của hình thể giúp cho các em thêm yêu và gần gũi thiên nhiên hơn.

Đối với môn trang trí và bố cục cũng vậy, dạy trẻ vẽ cảnh sinh hoạt bằng cảm nhận, bằng đôi mắt trẻ thơ trong sáng chứ không cần bắt các em phải có ý thức bố cục người đứng, người ngồi, nhóm chính, nhóm phụ. Các em được tự do vẽ, miễn là thông qua đó khơi gợi ở các em lòng yêu mến thiên nhiên, yêu mến con người. Đó mới là giáo dục thẩm mỹ ở tuổi thơ. Hãy để các em có thể vẽ ông mặt trời bằng màu xanh, thảm cỏ màu đỏ. Các em luôn có lý của mình, đừng bắt các em nhìn bằng đôi mắt của người lớn. Muốn được như vậy thì giáo viên giảng dạy nghệ thuật ở bậc phổ thông cần nhiều kiến thức khác chứ không chỉ là các bài vẽ hình hoạ, các bài vẽ bố cục. Điều tôi muốn nói ở đây là hiện nay sinh viên sư phạm Mỹ thuật quá thừa các bài vẽ cơ bản nhưng lại thiếu kiến thức sâu về nhận thức thẩm mỹ để giảng dạy và giáo dục nghệ thuật cho học sinh. Như vậy chúng ta cần trang bị kiến thức nền nhiều hơn những kỹ năng mang tính hàn lâm như bấy lâu vẫn làm.

Qua nhiều năm công tác cũng như hướng dẫn thực tập sư phạm, tôi thấy cần phải thay đổi yêu cầu đối với các bài tập của sinh viên mỹ thuật. Thay vì bài tập mô phỏng các bài làm của trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, chúng ta phải nghiên cứu các bài tập thiết thực hơn, gần gũi với công việc của giáo sinh sau khi ra trường. Bám sát chương trình mỹ thuật phổ thông, các tổ bộ môn phải nghiên cứu đưa ra các bài tập để sinh viên thực hiện. Thực hiện được tốt những việc đó chính là chúng ta đã giải đáp được câu hỏi khoa Sư phạm Mỹ thuật cần dạy gì? dạy như thế nào? điều đó cũng thể hiện được chúng ta đào tạo cái mà xã hội cần chứ không đào tạo cái chúng ta có. Đó cũng là một cách khẳng định được chất lượng đào tạo, thương hiệu của nhà trường.

Vấn đề thứ 2: Về đội ngũ giảng viên

Nhìn vào chất lượng sinh viên của một trường đại học, người ta đánh giá được trình độ của giảng viên. Đó là một thực tế.

Đối với trường Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, phần lớn đội ngũ giảng viên được đào tạo bài bản, chính quy trong các trường nghệ thuật lớn mang tính hàn lâm. Đó là một thuận lợi. Tuy nhiên, trong tình hình thực tế hiện nay, với yêu cầu và nhiệm vụ mới thì sự vững vàng về chuyên môn thôi hẳn chưa đủ. Cũng như các sinh viên của chúng ta, đội ngũ giảng viên đa phần được đào tạo mang tính kỹ năng chuyên sâu về chuyên môn nhưng lý luận, kiến thức nền về giáo dục và đào tạo còn nhiều hạn chế. Có thể anh (chị) cảm thụ nghệ thuật rất tốt, sáng tác giỏi nhưng truyền đạt và giáo dục thẩm mỹ lại là một vấn đề khác nữa. Trong bối cảnh hiện nay khi mà nhịp sống thay đổi từng giờ, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội nên các trào lưu nghệ thuật cũng thay đổi. Thậm chí quan điểm nghệ thuật cũng không ngừng vận động. Việc cập nhật thông tin, sàng lọc và nhận định của từng cá thể trong xã hội luôn là một đòi hỏi nếu như mỗi con người không muốn tự loại mình. Với các giảng viên đại học thì công việc đó càng trở nên cần thiết. Có thể vấn đề này, quan điểm này hôm nay là đúng nhưng ngày mai nó đã phải nhường chỗ cho quan điểm khác. Tôi muốn nói tới vấn đề tự bồi dưỡng và nâng cao của đội ngũ giảng viên. Thực tế cho thấy những luận điểm về nghệ thuật (qua các bài giảng) đã được đưa vào chương trình 30 - 40 năm nhưng vẫn được giảng trong thời điểm hiện nay. Qua việc nghiên cứu tư liệu và thông qua một số nội dung chương trình của một số nước trong khu vực thì nội dung chương trình mới đặc biệt là những kiến thức có tính cập nhật đáp ứng xu thế phát triển chung là không thể thiếu trong nội dung giảng dạy trong các trường đại học.

Từ những vấn đề nêu trên, trong những năm gần đây, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương đã từng bước thay đổi và biên soạn nội dung chương trình; đồng thời chủ động xây dựng bộ giáo trình ở hệ Cao đẳng và hiện nay đang tiến hành viết giáo trình hệ đại học Sư phạm Mỹ thuật với tất cả các môn học (Hình họa, Trang trí, Bố cục, Xa gần, Giải phẫu, Lịch sử Mỹ thuật…) để phù hợp với xu thế giáo dục ngày nay.

Nhà trường đã cử một số giảng viên cốt cán tham gia các dự án đổi mới phương pháp giảng dạy của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiện nay, nhà trường đang thực hiện dự án Đổi mới phương pháp dạy học bậc Tiểu học với Đan Mạch. Đây là một cơ hội tốt để nhà trường nắm bắt mục tiêu giáo dục thẩm mỹ, từ đó xây dựng nội dung chương trình cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giáo dục phổ thông hiện nay.

Đồng thời, nhà trường đã mở nhiều lớp tập huấn về phương pháp giảng dạy, để đội ngũ giảng viên nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm cũng như mục tiêu đào tạo trong thời đại toàn cầu hóa.

Trên đây là một số ý kiến của cá nhân tôi về công tác đào tạo giáo viên mỹ thuật hiện nay. Mong các đồng chí cùng thảo luận và đưa ra các giải pháp tích cực để nâng cao chất lượng đào tạo, xứng đáng với tầm và vị thế mới của trường đầu ngành về giáo dục nghệ thuật trong cả nước.

- Câu chuyện buồn nhất thế kỷ?

Ngày xửa ngày xưa có một đôi trai gái yêu nhau tha thiết, quả thật họ rất đẹp đôi - trai tài gái sắc. Tưởng chừng tình yêu của họ không có gì chia rẽ được...
Ngày qua ngày họ vui đùa bên nhau ở trên cánh đồng bát ngát màu xanh của cỏ. Một ngày nọ cũng ở trên cánh đồng xanh đó, giữa một ngày nắng đẹp trời xanh và cao. Hai người vẫn như thường lệ vui đùa với nhau, sau khi mệt nhoài họ ngả lưng xuống dưới tấm nệm cỏ đó, cùng nhau ngắm bầu trời. Bất chợt cô gái hỏi chàng trai:
- Anh ơi! Bao giờ thì mặt trời sẽ không chiếu sáng nữa nhỉ
- Anh không biết đâu

- Thế không biết bao giờ thì bầu trời hết trong xanh thế này anh nhỉ?

- Anh cũng không biết nữa - chàng trai nói
Cuối cùng cô gái hỏi chàng trai :

- Thế có khi nào chúng mình xa nhau không anh?

- Mình chỉ xa nhau khi mà bầu trời không được mặt trời chiếu sáng, và nó cũng không còn màu xanh nữa.
Cô gái rất hài lòng vì câu trả lời của chàng trai.
Tuy nhiên, sự đời không đẹp đẽ như nhiều người mơ ước. Một đêm nọ chàng trai đến gặp người mình yêu và nói:
- Chúng ta chia tay nhau nhé!

Thật sự ngỡ ngàng cô gái hỏi chàng trai :
- Trước kia anh đã từng nói với em rằng chúng ta chỉ chia tay nhau khi bầu trời không được mặt trời chiếu sáng nữa và nó cũng không còn màu xanh, sao bây giờ anh lại nói chia tay em.
Ngước mắt lên nhìn trời chàng trai nói :

- Em hãy nhìn đi bây giờ bầu trời không còn được mặt trời chiếu sáng nữa, và bầu trời không phải màu xanh mà chỉ có màu đen thôi.
Rồi chàng trai quay bước ra đi bỏ lại cô gái thương khóc một mình. Cô khóc mãi khóc mãi. Cô quay mặt về hướng mặt trời để hi vọng rằng khi trời sáng, lúc cô nhìn thấy tia nắng đầu tiên cũng là lúc chàng trai trở về với cô. Tuy nhiên, khi trời sáng khi mà cô cảm nhận được ánh sáng ấm áp của mặt trời chiếu vào mặt mình cũng là lúc người con gái tội nghiệp đó biết mình đã mù. Cô không còn nhìn thấy ánh nắng mặt trời cũng không còn nhìn thấy màu xanh của bầu trời, nhưng cô vẫn quay mặt của mình về hướng mặt trời với hi vọng là một khi nào đó mắt cô sáng lại cũng là lúc người yêu của cô theo cùng tia nắng đầu tiên đó quay trở lại.

KHÔNG HIỂU TIA NẮNG ĐÓ SẼ BAO GIỜ TRỞ VỀ VỚI CÔ GÁI NHỈ? THEO TÔI  ĐÓ CHỈ LÀ ƯỚC VỌNG, MÀ ƯỚC VỌNG THÌ SẼ KHÔNG THÀNH HIỆN THỰC BẠN AH.CÁI GÌ RA ĐI SẼ MÃI MÃI KHÔNG QUAY TRỞ VỀ. Hãy sống và nâng niu trân trọng những gì mình đã có. Không phải tự nhiên mà chàng trai kia ra đi heheheheheheheheheheheheeeeeeeeeeeee

- Hà Mạnh Thắng với những bức tranh 'không phải ký ức'

Tranh Hà Mạnh Thắng không phải dòng tranh xinh xắn, dễ thương, đẹp một cách dễ cảm nhận. Một nét độc đáo khác là anh thích vẽ tranh có khổ lớn gấp rưỡi, gấp đôi bình thường.

Họa sĩ Hà Mạnh Thắng tại buổi giới thiệu triển lãm ngày 9/4.
Triển lãm “Not memory”, tạm dịch “Không phải là ký ức”, là bước tiến mới trong nghiệp vẽ của Thắng. Đây được xem là món quà tặng cho con trai anh vừa mới ra đời, bé Hà Mạnh Khôi. Đồng thời, bộ tranh còn lấy nguồn cảm hứng bất tận từ lịch sử. “Điều tôi muốn nhấn mạnh là thái độ của ta khi đối diện lại ký ức hay lịch sử. Ta không thể phán xét mà chỉ có thể đối diện với thái độ chân thành và cầu thị”, họa sĩ tâm sự.
“Not memory” pha trộn những bức ảnh cũ của Việt Nam đầu thế kỷ 20, những mô típ lấy từ truyền thống phương Tây, Trung Quốc hay Nhật Bản, logo của các nhãn hiệu nổi tiếng và hình ảnh về cuộc sống đời thường bằng gam màu tươi sáng trên những tấm voan kích cỡ lớn.
Bức "Vui đời binh nghiệp No1" (Chiến sĩ thông tin cơ động 1), khổ 120 x 200 cm.
Hà Mạnh Thắng là một trong những tên tuổi nổi bật của nghệ thuật đương đại Việt Nam, mà tiếng tăm đã vượt ra ngoài biên giới. Anh từng tổ chức triển lãm ở Singapore, Đức. Sau khi tổ chức ở Hà Nội, “Not memory” cũng được anh mang sang nước ngoài, dự kiến sẽ là Singapore vào tháng 9 và Miami, Mỹ vào tháng 12 năm nay.
Phong cách sáng tác của Thắng được so sánh với hai họa sĩ người Trung Quốc, Yue Minjun ở nét độc đáo, và Wang Guanguyj ở sự phê bình xã hội nghiêm túc. Anh kết hợp những hình ảnh cổ xưa và những biểu tượng hiện đại. Trong tranh của Thắng có một cuộc đối thoại giữa lịch sử Việt Nam và những tài liệu tham khảo từ phương Tây

Hình ảnh mèo Kitty và chuột Mickey trong bức "Vui đời binh nghiệp No2" (Chiến sĩ thông tin cơ động 2), khổ 120 x 200 cm.
Ban đầu, khi xem tranh, ta sẽ thấy các hình ảnh tươi vui trộn lẫn một chút tinh nghịch hiện đại, như mèo Kitty và chuột Mickey thể hiện sự trẻ thơ. Nếu quan sát kỹ, sẽ nhận ra nét chín chắn, sâu sắc, chiêm nghiệm về lịch sử, ký ức và cá tính của con người. Đó là điều mà họa sĩ muốn công chúng cảm nhận được.
“Ký ức giống như một cái gai nhỏ đâm vào lòng mỗi khi bạn nghĩ đến nó. Vì lẽ mọi thứ đã không còn thay đổi được. Ký ức sẽ không phải là ký ức nếu ta muốn nhìn nhận hoặc suy xét nó đã tác động đến phần nào trong cuộc đời và tâm hồn chúng ta”, họa sĩ chia sẻ.
Hà Mạnh Thắng sinh năm 1980 tại Thái Nguyên. Anh tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 2004. Một vài bức tranh của anh đang được trưng bày ở bảo tàng Nghệ thuật Singapore, trong đó có bức “Bride and Gloom”. Mới đây, anh vừa tham gia triển lãm “Bối cảnh nghệ thuật Việt Nam” tại phòng tranh IFA, Berlin (Đức), cùng 10 họa sĩ Việt Nam khác.
Thắng cũng là họa sĩ đầu tiên được tổ chức triển lãm solo tại phòng tranh Bui Gallery, 23 Ngô Văn Sở, Hà Nội. Triển lãm khai mạc vào hồi 18h30 ngày 10/4, mở cửa đến hết ngày 3/5.